THƯ GỬI TÍN HỮU RÔ-MA

Chương 1

Lời mở đầu

1.  1 Tôi là Phao-lô, tôi tớ của Đức Ki-tô Giê-su; tôi được gọi làm Tông Đồ, và dành riêng để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa.2 Tin Mừng ấy, xưa Người đă dùng các ngôn sứ của Người mà hứa trước trong Kinh Thánh.3 Đó là Tin Mừng về Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.
4 Nhưng xét như Đấng đă từ cơi chết sống lại nhờ Thánh Thần, Người đă được đặt làm Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng.
5 Nhờ Người, chúng tôi đă nhận được đặc ân và chức vụ Tông Đồ, làm cho hết thảy các dân ngoại vâng phục Tin Mừng hầu danh Người được rạng rỡ.6 Trong số đó, có cả anh em, là những người đă được kêu gọi để thuộc về Đức Giê-su Ki-tô.
7 Kính gửi tất cả anh em ở Rô-ma, những người được Thiên Chúa yêu thương, được kêu gọi làm dân thánh.
Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giê-su Ki-tô ban cho anh em ân sủng và b́nh an.

Tạ ơn và cầu xin

8 Trước hết, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, tôi tạ ơn Thiên Chúa của tôi về tất cả anh em, v́ trong khắp hoàn cầu, ai ai cũng đều nói đến ḷng tin của anh em.9 Thiên Chúa là Đấng tôi hết ḷng thờ phượng khi loan báo Tin Mừng về Con của Người, chính Người làm chứng cho tôi là tôi hằng nhắc nhở đến anh em:10 mỗi khi cầu nguyện, tôi hằng xin Người cho tôi có ngày nào được dịp tốt đến thăm anh em, nếu Người muốn.11 Thật vậy, tôi rất ước ao được gặp anh em, để chia sẻ với anh em phần nào ân huệ của Thánh Thần, nhờ đó anh em vững mạnh,12 nghĩa là để chúng ta cùng khích lệ nhau, bởi v́ cả anh em lẫn tôi, chúng ta đều chung một niềm tin.13 Thưa anh em, tôi không muốn để anh em chẳng hay biết là đă nhiều lần tôi có ư định đến thăm anh em, mong cũng thâu lượm được kết quả nào đó nơi anh em, như đă thâu lượm được nơi các dân ngoại khác, nhưng cho đến nay tôi cứ bị ngăn trở hoài.14 Tôi mắc nợ người Hy-lạp cũng như người man-di, người thông thái cũng như người dốt nát.15 Bởi vậy, tôi nóng ḷng loan báo Tin Mừng cho cả anh em nữa, những người đang sống ở Rô-ma.

A.  CON NGƯỜI ĐƯỢC CỨU ĐỘ NHỜ ĐỨC TIN

1. THIÊN CHÚA LÀM CHO CON NGƯỜI NÊN CÔNG CHÍNH

Đề tài bức thư

16 Vâng, tôi không hổ thẹn v́ Tin Mừng. Quả thế, Tin Mừng là sức mạnh Thiên Chúa dùng để cứu độ bất cứ ai có ḷng tin, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp.17 V́ trong Tin Mừng, sự công chính của Thiên Chúa được mặc khải, nhờ đức tin để đưa đến đức tin, như có lời chép: Người công chính nhờ đức tin sẽ được sống.
A. NGƯỜI NGOẠI VÀ NGƯỜI DO-THÁI PHẢI CHỊU CƠN THỊNH NỘ CỦA THIÊN CHÚA

Người ngoại phải chịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa

18 Thật vậy, từ trời, Thiên Chúa mặc khải cơn thịnh nộ của Người chống lại mọi thứ vô luân và bất chính của những người lấy sự bất chính mà giam hăm chân lư.19 Những ǵ người ta có thể biết về Thiên Chúa, th́ thật là hiển nhiên trước mắt họ, v́ chính Thiên Chúa đă cho họ thấy rơ.20 Quả vậy, những ǵ người ta không thể nh́n thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Người, th́ từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nh́n thấy được qua những công tŕnh của Người. Do đó, họ không thể tự bào chữa được,21 v́ tuy biết Thiên Chúa, họ đă không tôn vinh hay cảm tạ Người cho phải đạo. Trái lại, đầu óc họ suy luận viển vông và tâm trí ngu si của họ hoá ra mê muội.22 Họ khoe ḿnh khôn ngoan, nhưng đă trở nên điên rồ.23 Thay v́ Thiên Chúa vinh quang bất tử, họ đă thờ h́nh tượng người phàm là loài phải chết, hay h́nh tượng các loài chim chóc, thú vật, rắn rết.

24 V́ thế, Thiên Chúa đă để mặc họ buông theo dục vọng mà làm những điều ô uế, khiến thân thể họ ra hư hèn.25 Thay v́ Thiên Chúa thật, họ đă theo những thần giả; họ đă tôn thờ những loài thọ tạo, thay v́ chính Đấng Tạo Hoá. Chúc tụng Người đến muôn thuở muôn đời. A-men.

26 Bởi thế, Thiên Chúa đă để mặc họ buông theo dục t́nh đồi bại. Đàn bà không quan hệ theo lẽ tự nhiên, mà lại làm điều trái tự nhiên.27 Đàn ông cũng vậy, không quan hệ với đàn bà theo lẽ tự nhiên, mà lại đem ḷng thèm muốn lẫn nhau: đàn ông bậy bạ với đàn ông. Như vậy là chuốc vào thân h́nh phạt xứng với sự lầm lạc của ḿnh.

28 V́ họ đă không thèm nhận biết Thiên Chúa, nên Người đă để mặc họ theo trí óc lệch lạc mà làm những điều bất xứng,29 ḷng họ đầy bất chính, xấu xa, tham lam, độc ác đủ thứ; nào là ganh tị, giết người, căi cọ, mưu mô, thâm hiểm; nào là nói hành nói xấu,30 vu oan giá hoạ. Họ thù ghét Thiên Chúa, ngạo ngược, kiêu căng, khoác lác, giỏi làm điều ác, không vâng lời cha mẹ,31 không có lương tri, không giữ lời hứa, không chút t́nh cảm, không chút xót thương.32 Họ thừa biết phán quyết của Thiên Chúa là: hễ ai làm những điều như vậy th́ đáng chết. Thế mà không những họ cứ phạm những tội đó, lại c̣n tán thành những kẻ làm như vậy.

Chương 2

Người Do-thái cũng phải chịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa

2.  1 Hỡi người, dù bạn là ai đi nữa mà bạn xét đoán, th́ bạn cũng không thể tự bào chữa được. V́ khi bạn xét đoán người khác, mà bạn cũng làm như họ, th́ bạn tự kết án chính ḿnh.2 Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa cứ theo sự thật mà xét xử những ai làm những điều đó.3 C̣n bạn, hỡi người xét đoán những kẻ làm những điều đó trong khi chính ḿnh cũng làm như vậy, bạn tưởng ḿnh sẽ khỏi bị Thiên Chúa xét xử sao?4 Hay là bạn coi thường ḷng Chúa vô cùng nhân hậu, khoan dung, đại lượng, mà không nhận ra rằng: Thiên Chúa nhân hậu như thế là để thúc giục bạn hối cải sao?5 Thế nhưng bạn ḷng chai dạ đá không chịu hối cải, và như vậy bạn càng làm cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa chồng chất trên đầu bạn, trong ngày Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ và biểu lộ phán quyết công minh.6 Ngày đó, Thiên Chúa sẽ thưởng phạt mỗi người tuỳ theo việc họ làm;7 những ai bền chí làm việc thiện mà t́m vinh quang, danh dự và phúc trường sinh bất tử, th́ Thiên Chúa sẽ cho họ được sống đời đời;8 c̣n những ai chống Thiên Chúa mà không vâng phục chân lư và chạy theo điều ác, th́ Người sẽ nổi trận lôi đ́nh, trút cơn thịnh nộ xuống đầu họ.9 Người sẽ bắt mọi kẻ làm điều ác phải gian nan khốn khổ, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp.10 Nhưng Người sẽ ban vinh quang, danh dự và b́nh an cho tất cả những ai làm điều thiện, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp,11 v́ Thiên Chúa không thiên vị ai.

Mặc dầu có Luật Mô-sê

12 Quả thế, những người không biết Luật Mô-sê mà phạm tội, th́ sẽ bị diệt vong không chiếu theo Luật đó. C̣n những người sống dưới Luật Mô-sê mà phạm tội, th́ sẽ bị xét xử theo Luật đó.13 Thật vậy, người ta được Thiên Chúa coi là công chính, không phải v́ nghe biết Lề Luật, nhưng là v́ tuân giữ Lề Luật.14 Dân ngoại là những người không có Luật Mô-sê; nhưng mỗi khi họ theo lẽ tự nhiên mà làm những ǵ Luật dạy, th́ họ là Luật cho chính ḿnh, mặc dầu họ không có Luật Mô-sê.15 Họ cho thấy là điều ǵ Luật đ̣i hỏi, th́ đă được ghi khắc trong ḷng họ. Lương tâm họ cũng chứng thực điều đó, v́ họ tự phán đoán trong ḷng, khi th́ cho ḿnh là trái, khi th́ cho ḿnh là phải.16 Người ta sẽ thấy điều đó, trong ngày Thiên Chúa cho Đức Ki-tô Giê-su đến xét xử những ǵ bí ẩn nơi con người theo Tin Mừng tôi rao giảng.

17 C̣n bạn, bạn mang tên là người Do-thái, lại ỷ rằng ḿnh có Lề Luật, và tự hào v́ có Thiên Chúa;18 bạn được biết ư Người, được Lề Luật dạy cho điều hay lẽ phải;19 bạn xác tín rằng ḿnh là người dẫn dắt kẻ mù loà, là ánh sáng cho kẻ ở trong bóng tối,20 là nhà giáo dục kẻ u mê, là thầy dạy người non dại, v́ bạn tưởng ḿnh có Lề Luật là có tất cả tri thức và chân lư:21 Vậy, bạn biết dạy người khác, mà lại không dạy chính ḿnh! Bạn giảng: đừng trộm cắp, mà bạn lại trộm cắp!22 Bạn nói: chớ ngoại t́nh, mà bạn lại ngoại t́nh! Bạn gớm ghét ngẫu tượng, mà bạn lại cướp bóc đền miếu!23 Bạn tự hào v́ có Lề Luật, mà bạn lại vi phạm Lề Luật, và như vậy bạn làm nhục Thiên Chúa!24 Thật đúng như lời chép: Chính v́ các người mà danh Thiên Chúa bị phỉ báng giữa chư dân.

Mặc dầu có phép cắt b́

25 C̣n phép cắt b́, đă hẳn là có ích, nếu bạn thi hành Lề Luật. Nhưng nếu bạn vi phạm Lề Luật, th́ bạn có được cắt b́ cũng kể như không cắt b́.26 Trái lại, nếu người không được cắt b́ mà giữ những điều Luật dạy, th́ tuy họ không được cắt b́, Thiên Chúa chẳng coi họ như đă được cắt b́ sao?27 Người không được cắt b́ trong thân xác mà vẫn chu toàn Lề Luật, người ấy sẽ lên án bạn, v́ bạn có Lề Luật ghi chép hẳn hoi và bạn đă được cắt b́, mà vẫn vi phạm Lề Luật.28 Thật vậy, người Do-thái chính hiệu không phải là căn cứ vào cái thấy được bên ngoài, phép cắt b́ chính hiệu không phải là căn cứ vào cái thấy được bên ngoài, nơi thân xác.29 Nhưng người Do-thái chính hiệu là người Do-thái tận đáy ḷng, phép cắt b́ chính hiệu là phép cắt b́ trong tâm hồn, theo tinh thần của Lề Luật chứ không phải theo chữ viết của Lề Luật. Người như thế được Thiên Chúa chứ không phải người phàm khen ngợi.

Chương 3

Mặc dầu có lời hứa của Thiên Chúa

3.  1 Vậy th́ người Do-thái được ǵ hơn? Phép cắt b́ có ích lợi ǵ?2 Nhiều lắm chứ! Về mọi mặt! Trước hết, họ đă được Thiên Chúa giao phó lời Người cho họ.3 Nhưng nếu có một số người Do-thái không trung tín th́ sao? Chẳng lẽ sự bất trung bất tín của họ lại làm cho ḷng trung tín của Thiên Chúa ra vô hiệu?4 Không phải thế! Thiên Chúa nhất định là Đấng chân thật, c̣n mọi người đều giả dối. Như có lời chép trong Kinh Thánh:
Như vậy, Ngài thật công b́nh khi tuyên án,
liêm chính khi xét xử.

5 Nhưng nếu sự bất chính của chúng tôi làm nổi bật sự công chính của Thiên Chúa, th́ phải nói sao? Phải chăng Thiên Chúa không công chính khi Người trút cơn thịnh nộ? Ấy là tôi nói theo kiểu người phàm.6 Không phải thế! V́ giả như Thiên Chúa không công chính, th́ làm sao Người phán xét thế gian được?7 Nhưng nếu sự giả dối của tôi làm cho thấy rơ hơn Thiên Chúa là Đấng chân thật, và như vậy càng tôn vinh Người, th́ tại sao tôi lại c̣n bị kết án là kẻ tội lỗi?8 Thế th́ “Sao ta không cứ làm điều dữ đi, để nhờ đó mà được điều lành? ” như có những kẻ vu cho chúng tôi nói câu đó. Họ có bị kết tội cũng là đích đáng.

Mọi người đều bị tội lỗi thống trị

9 Vậy th́ sao? Người Do-thái chúng tôi có hơn ǵ người khác không? Không hơn ǵ cả! Quả thế, chúng ta đă chứng minh rằng mọi người, Do-thái cũng như Hy-lạp đều bị tội lỗi thống trị.10 Như có lời chép rằng: Không ai là người công chính, dẫu một người cũng không;11 chẳng ai có lương tri, chẳng ai kiếm t́m Thiên Chúa.12 Người người đă ĺa xa chính lộ, chỉ biết theo nhau làm chuyện suy đồi; chẳng có một ai làm điều thiện, dẫu một người cũng không.13 Cửa họng chúng như nấm mồ mở rộng, khéo đẩy đưa ba tấc lưỡi phỉnh phờ chúng chứa đầy mồm nọc độc hổ mang,14 miệng độc dữ điêu ngoa những buông lời nguyền rủa.15 Chúng nhanh chân đi đổ máu người ta,16 đi tới đâu cũng gieo tai rắc hoạ.17 Chúng chẳng biết con đường đưa tới b́nh an,18 chẳng thấy cần phải kính sợ Thiên Chúa.

19 Chúng ta biết rằng: tất cả những ǵ sách Luật nói là nhằm những người sống dưới Luật đó. Như vậy ai ai cũng phải câm miệng và mọi người trên thế gian đều đắc tội trước toà Thiên Chúa.20 Bởi lẽ trước nhan Chúa, không người phàm nào được nh́n nhận là công chính v́ đă làm những ǵ Luật dạy. Luật chẳng qua chỉ làm cho người ta ư thức về tội.

B.  CON NGƯỜI ĐƯỢC NÊN CÔNG CHÍNH NHỜ ĐỨC TIN

Thiên Chúa cho thấy Người là Đấng Công Chính

21 Nhưng ngày nay, sự công chính của Thiên Chúa đă được thể hiện mà không cần đến Luật Mô-sê. Điều này, sách Luật và các ngôn sứ làm chứng.22 Quả thế, người ta được Thiên Chúa làm cho nên công chính nhờ ḷng tin vào Đức Giê-su Ki-tô. Tất cả những ai tin đều được như thế, bất luận là ai.23 Thật vậy, mọi người đă phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa,24 nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công tŕnh cứu chuộc thực hiện trong Đức Ki-tô Giê-su.25 Thiên Chúa đă đặt Người làm nơi xá tội nhờ máu của Người cho những ai có ḷng tin. Như vậy, Thiên Chúa cho thấy Người là Đấng Công Chính. Trước kia, trong thời Thiên Chúa nhẫn nại, Người đă bỏ qua các tội lỗi người ta phạm.26 Nhưng bây giờ, Người muốn cho thấy rằng Người vừa là Đấng Công Chính, vừa làm cho kẻ tin vào Đức Giê-su được nên công chính.

Vai tṛ của đức tin

27 Vậy th́ hănh diện ở chỗ nào? Chẳng c̣n ǵ để hănh diện! Dựa vào luật nào mà hănh diện? Vào việc làm chăng? Không, nhưng dựa vào ḷng tin.28 Thật vậy, chúng tôi nghĩ rằng: người ta được nên công chính v́ tin, chứ không phải v́ làm những ǵ Luật dạy.29 Hay là Thiên Chúa chỉ là Thiên Chúa của người Do-thái thôi? Thiên Chúa không là Thiên Chúa của các dân ngoại nữa sao? Có chứ! Người cũng là Thiên Chúa của các dân ngoại nữa,30 v́ chỉ có một Thiên Chúa, Đấng làm cho người được cắt b́ nên công chính v́ họ tin, và làm cho người không được cắt b́ nên công chính cũng bởi họ tin.31 Vậy có phải là chúng ta dựa vào đức tin mà huỷ bỏ Lề Luật chăng? Không phải thế! Trái lại, chúng ta củng cố Lề Luật.

C.  GƯƠNG TỔ PHỤ ÁP-RA-HAM

Chương 4

Ông Áp-ra-ham được nên công chính v́ đă tin

4.  1 Vậy phải nói sao về ông Áp-ra-ham, tổ phụ dân tộc chúng tôi? Ông đă được ǵ?2 Giả như ông Áp-ra-ham được nên công chính v́ những việc ông đă làm, th́ ông có lư do để hănh diện; nhưng không phải là hănh diện trước mặt Thiên Chúa.3 Thật vậy, Kinh Thánh nói ǵ? Ông Áp-ra-ham đă tin Thiên Chúa, và v́ thế được kể là người công chính.4 Người nào làm việc, th́ lương trả cho người ấy không được kể là ân huệ, mà là nợ.5 Trái lại người nào không dựa vào việc làm nhưng tin vào Thiên Chúa, Đấng làm cho kẻ vô đạo nên công chính, th́ ḷng tin làm cho người ấy được Thiên Chúa kể là công chính.6 Đó là điều vua Đa-vít nói khi ca tụng hạnh phúc của người được Thiên Chúa kể là công chính mà không xét đến việc làm:
7 Hạnh phúc thay kẻ lỗi lầm mà được tha thứ,
người có tội mà được khoan dung!
8 Hạnh phúc thay người Chúa không kể là có tội!

Không phải v́ chịu phép cắt b́

9 Lời ca tụng hạnh phúc này chỉ áp dụng cho những người được cắt b́, hay cho cả những người không được cắt b́ nữa? Quả vậy, như chúng ta vừa nói: Ông Áp-ra-ham đă tin, và v́ thế được kể là người công chính.10 Ông được kể là người công chính khi nào? Trước hay sau khi ông được cắt b́? Không phải sau, mà là trước khi ông được cắt b́!11 Ông nhận được phép cắt b́ như dấu hiệu chứng thực rằng: nhờ tin mà ông được trở nên công chính, trước khi được cắt b́. Như vậy, ông là cha của mọi kẻ tin mà không được cắt b́, và v́ tin nên được kể là công chính.12 Ông cũng là cha của những người được cắt b́, nhưng không phải chỉ được cắt b́, mà c̣n dơi bước tổ phụ chúng ta là ông Áp-ra-ham, trên đường đức tin, đức tin ông đă có trước khi được cắt b́.

Không phải v́ giữ Lề Luật

13 Thật vậy, không phải chiếu theo Lề Luật, mà Thiên Chúa đă hứa cho ông Áp-ra-ham và ḍng dơi ông được thế gian làm gia nghiệp; nhưng ông được lời hứa đó, v́ đă trở nên công chính nhờ ḷng tin.14 Nếu gia nghiệp được dành cho những kẻ lệ thuộc vào Lề Luật, th́ đức tin trở nên vô nghĩa, và lời Thiên Chúa hứa bị huỷ bỏ.15 Quả thế, Luật gây nên cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, c̣n ở đâu không có Lề Luật, th́ cũng không có vi phạm.16 Bởi vậy, v́ tin mà người ta được thừa hưởng lời Thiên Chúa hứa; như thế lời hứa là ân huệ Thiên Chúa ban không, và có giá trị cho toàn thể ḍng dơi ông Áp-ra-ham, nghĩa là không phải chỉ cho những ai giữ Lề Luật, mà c̣n cho những ai có ḷng tin như ông. Ông là tổ phụ chúng ta hết thảy,17 như có lời chép: Ta đă đặt ngươi làm tổ phụ nhiều dân tộc. Ông là tổ phụ chúng ta trước mặt Thiên Chúa, Đấng ông tin tưởng, Đấng làm cho kẻ chết được sống và khiến những ǵ không có hoá có.

Ḷng tin của ông Áp-ra-ham và ḷng tin của chúng ta

18 Mặc dầu không c̣n ǵ để trông cậy, ông vẫn trông cậy và vững tin, do đó ông đă trở thành tổ phụ nhiều dân tộc, như lời Thiên Chúa phán: Ḍng dơi ngươi sẽ đông đảo như thế.19 Ông đă gần một trăm tuổi, nhưng ông vẫn vững tin không nao núng, khi nghĩ rằng thân xác ông cũng như dạ bà Xa-ra đều đă chết.20 Ông đă chẳng mất niềm tin, chẳng chút nghi ngờ lời Thiên Chúa hứa; trái lại, nhờ niềm tin, ông đă nên vững mạnh và tôn vinh Thiên Chúa,21 v́ ông hoàn toàn xác tín rằng: điều ǵ Thiên Chúa đă hứa th́ Người cũng có đủ quyền năng thực hiện.22 Bởi thế, ông được kể là người công chính.

23 Nhưng khi viết ông được kể là người công chính, th́ không phải chỉ nói về ông,24 mà c̣n nói về cả chúng ta nữa: chúng ta sẽ được kể là công chính, v́ tin vào Đấng đă làm cho Đức Giê-su, Chúa chúng ta, sống lại từ cơi chết;25 Đức Giê-su chính là Đấng đă bị trao nộp v́ tội lỗi chúng ta và đă được Thiên Chúa làm cho sống lại để chúng ta được nên công chính.

2. THIÊN CHÚA CỨU ĐỘ CON NGƯỜI

Chương 5

Một khi nên công chính, con người được bảo đảm ơn cứu độ

5.  1 Vậy, một khi đă được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được b́nh an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.2 V́ chúng ta tin, nên Đức Giê-su đă mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, như chúng ta đang được hiện nay; chúng ta lại c̣n tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa.3 Nhưng không phải chỉ có thế; chúng ta c̣n tự hào khi gặp gian truân, v́ biết rằng: ai gặp gian truân th́ quen chịu đựng;4 ai quen chịu đựng, th́ được kể là người trung kiên; ai được công nhận là trung kiên, th́ có quyền trông cậy.5 Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, v́ Thiên Chúa đă đổ t́nh yêu của Người vào ḷng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.6 Quả vậy, khi chúng ta không có sức làm được ǵ v́ c̣n là hạng người vô đạo, th́ theo đúng kỳ hạn, Đức Ki-tô đă chết v́ chúng ta.7 Hầu như không ai chết v́ người công chính, hoạ may có ai dám chết v́ một người lương thiện chăng.8 Thế mà Đức Ki-tô đă chết v́ chúng ta, ngay khi chúng ta c̣n là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.9 Phương chi bây giờ chúng ta đă được nên công chính nhờ máu Đức Ki-tô đổ ra, hẳn chúng ta sẽ được Người cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa.10 Thật vậy, nếu ngay khi chúng ta c̣n thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đă để cho Con của Người phải chết mà cho chúng ta được hoà giải với Người, phương chi bây giờ chúng ta đă được hoà giải rồi, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của Người Con ấy.11 Nhưng không phải chỉ có thế, chúng ta c̣n có Thiên Chúa là niềm tự hào, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, Đấng nay đă hoà giải chúng ta với Thiên Chúa.

A.  CHÚNG TA ĐƯỢC GIẢI THOÁT KHỎI TỘI LỖI,SỰ CHẾT VÀ LỀ LUẬT

A-đam và Đức Ki-tô Giê-su

12 V́ một người duy nhất, mà tội lỗi đă xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết; như thế, sự chết đă lan tràn tới mọi người, bởi v́ mọi người đă phạm tội.13 Trước khi có Lề Luật, đă có tội lỗi ở trần gian. Nhưng nếu không có Luật, th́ tội không bị kể là tội.14 Thế mà, từ thời A-đam đến thời Mô-sê, sự chết đă thống trị cả những người đă không phạm tội bất tuân lệnh Thiên Chúa như A-đam đă phạm. A-đam là h́nh ảnh Đấng sẽ tới.

15 Nhưng sự sa ngă của A-đam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa. Thật vậy, nếu v́ một người duy nhất đă sa ngă, mà muôn người phải chết, th́ ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô, c̣n dồi dào hơn biết mấy cho muôn người.16 Ơn Thiên Chúa ban cũng khác với hậu quả do một người phạm tội đă gây ra. Quả thế, v́ một người duy nhất phạm tội, con người đă bị xét xử để phải mang án, c̣n sau nhiều lần sa ngă, th́ lại được Thiên Chúa ban ơn cho trở nên công chính.17 Nếu chỉ v́ một người, một người duy nhất sa ngă, mà sự chết đă thống trị, th́ điều Thiên Chúa làm qua một người duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô, lại c̣n lớn lao hơn biết mấy. Quả vậy, những ai được Thiên Chúa ban ân sủng dồi dào và cho trở nên công chính, th́ sẽ được sống và được thống trị.

18 Tóm lại, cũng như v́ một người duy nhất đă sa ngă mà mọi người bị Thiên Chúa kết án, th́ nhờ một người duy nhất đă thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống.19 Thật vậy, cũng như v́ một người duy nhất đă không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, th́ nhờ một người duy nhất đă vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính.

20 Lề Luật đă xen vào, để cho sự sa ngă lan tràn; nhưng ở đâu tội lỗi đă lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội.21 Như vậy, nếu tội lỗi đă thống trị bằng cách làm cho người ta phải chết, th́ ân sủng cũng thống trị bằng cách làm cho người ta nên công chính để được sống đời đời, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.

Chương 6

Phép rửa

6.  1 Vậy phải nói sao? Chúng ta cứ ở măi trong tội lỗi, để ân sủng càng lan tràn ư?2 Không phải thế! Chúng ta là những kẻ đă chết đối với tội lỗi, th́ làm sao c̣n sống măi trong tội được.3 Anh em không biết rằng: khi chúng ta được d́m vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Ki-tô Giê-su, là chúng ta được d́m vào trong cái chết của Người sao?4 V́ được d́m vào trong cái chết của Người, chúng ta đă cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đă được sống lại từ cơi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, th́ chúng ta cũng được sống một đời sống mới.

5 Thật vậy, v́ chúng ta đă nên một với Đức Ki-tô nhờ được chết như Người đă chết, th́ chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đă sống lại.6 Chúng ta biết rằng: con người cũ nơi chúng ta đă bị đóng đinh vào thập giá với Đức Ki-tô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đă bị huỷ diệt, để chúng ta không c̣n làm nô lệ cho tội lỗi nữa.7 Quả thế, ai đă chết, th́ thoát khỏi quyền của tội lỗi.

8 Nếu chúng ta đă cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta.9 Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Ki-tô đă sống lại từ cơi chết, th́ không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng c̣n quyền chi đối với Người.10 Người đă chết, là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ. Nay Người sống, là sống cho Thiên Chúa.11 Anh em cũng vậy, hăy coi ḿnh như đă chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Ki-tô Giê-su.

Phục vụ tội lỗi và phục vụ sự công chính

12 Vậy tội lỗi đừng có thống trị thân xác phải chết của anh em nữa, khiến anh em phải nghe theo những dục vọng của thân xác.13 Anh em đừng dùng chi thể của anh em như khí cụ để làm điều bất chính, phục vụ cho tội lỗi nữa. Trái lại, anh em là những người sống đă từ cơi chết trở về, anh em hăy hiến toàn thân cho Thiên Chúa, và dùng chi thể của anh em như khí cụ để làm điều công chính, phục vụ Thiên Chúa.14 Tội lỗi sẽ không c̣n quyền chi đối với anh em nữa, v́ anh em không c̣n lệ thuộc vào Lề Luật, nhưng lệ thuộc vào ân sủng.

Người tín hữu được giải thoát khỏi tội lỗi

15 Vậy th́ sao? Chúng ta cứ phạm tội ư, v́ chúng ta không c̣n lệ thuộc vào Lề Luật, nhưng lệ thuộc vào ân sủng? Không đời nào!16 Anh em không biết sao? Khi đem thân làm nô lệ để vâng phục ai, th́ anh em là nô lệ của người mà anh em vâng phục: hoặc làm nô lệ tội lỗi, th́ sẽ phải chết; hoặc làm nô lệ phục vụ Thiên Chúa, th́ sẽ được nên công chính.17 Tạ ơn Thiên Chúa! Trước kia anh em làm nô lệ tội lỗi, nhưng nay anh em đă hết ḷng vâng theo quy luật đạo lư đă đào tạo anh em.18 Anh em đă được giải thoát khỏi ách tội lỗi mà trở thành nô lệ sự công chính.19 Ấy là tôi nói theo kiểu người phàm, hợp với tầm hiểu biết yếu kém của anh em. Trước đây, anh em đă dùng chi thể của ḿnh mà làm những điều ô uế và sự vô luân, để trở thành vô luân, th́ nay anh em cũng hăy dùng chi thể làm nô lệ sự công chính để trở nên thánh thiện.

Kết quả của tội lỗi và kết quả của sự công chính

20 Khi c̣n là nô lệ tội lỗi, anh em được tự do không phải làm điều công chính.21 Bấy giờ anh em thu được kết quả nào, bởi làm những việc mà ngày nay anh em phải xấu hổ? V́ rốt cuộc những việc ấy đưa đến chỗ chết.22 Nhưng giờ đây anh em đă được giải thoát khỏi ách tội lỗi mà trở thành nô lệ của Thiên Chúa; anh em thu được kết quả là được trở nên thánh thiện, và rốt cuộc được sống đời đời.23 Thật vậy, lương bổng mà tội lỗi trả cho người ta, là cái chết; c̣n ân huệ Thiên Chúa ban không, là sự sống đời đời trong Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta.

Chương 7

Người tín hữu được giải thoát khỏi Lề Luật

7.  1 Thưa anh em, -tôi nói đây là nói với những người biết Luật- anh em không biết điều này sao: Luật chỉ có hiệu lực đối với người ta, bao lâu người ta c̣n sống?2 Tỉ dụ như người đàn bà có chồng, th́ luật buộc theo chồng bao lâu chồng c̣n sống. Nhưng nếu chồng chết, th́ vợ không c̣n bị luật ràng buộc với chồng nữa.3 Vậy bao lâu chồng c̣n sống, mà vợ đi lấy người khác, th́ sẽ bị gọi là kẻ ngoại t́nh. Nhưng nếu chồng chết, th́ vợ được tự do không phải giữ luật đó nữa, và có đi lấy người khác, cũng không phải là ngoại t́nh.4 Đối với anh em cũng thế. Bởi được liên kết với thân thể Đức Ki-tô, anh em đă chết đối với Luật Mô-sê. Giờ đây, anh em thuộc về một người khác, tức là thuộc về Đấng đă được Thiên Chúa cho sống lại từ cơi chết, để chúng ta sinh hoa kết quả cho Thiên Chúa.5 V́ trước đây, khi chúng ta c̣n bị tính xác thịt chi phối, th́ các đam mê tội lỗi dùng Lề Luật mà hoạt động nơi các chi thể chúng ta, để chúng ta sinh hoa kết quả đưa tới cái chết.6 Nhưng nay, chúng ta không c̣n bị Lề Luật ràng buộc nữa, v́ chúng ta đă chết đối với cái vẫn giam hăm chúng ta. Như vậy, chúng ta phục vụ Thiên Chúa theo tinh thần mới, chứ không theo bản văn cũ của Lề Luật.

Vai tṛ của Lề Luật

7 Vậy phải nói sao? Lề Luật là tội chăng? Không phải thế! Nhưng tôi đă chẳng biết tội là ǵ nếu không có Lề Luật. Thật vậy, tôi đă chẳng biết ham muốn là ǵ, nếu Luật không dạy: Ngươi không được ham muốn.8 Tội đă thừa cơ, dùng điều răn mà làm nảy sinh trong tôi đủ thứ ham muốn. Thật vậy, không có Lề Luật th́ tội đă chết rồi.

9 Xưa kia, không có Luật th́ tôi sống; nhưng từ khi có điều răn th́ tội bắt đầu sống,10 c̣n tôi th́ chết. Thành thử điều răn lẽ ra phải đưa đến sự sống, lại dẫn tôi đến chỗ chết.11 Quả thế, tội đă thừa cơ, dùng điều răn để quyến rũ tôi và cũng dùng điều răn đó để giết tôi.

12 Như vậy, Lề Luật là thánh, và điều răn cũng là thánh, đúng và tốt.13 Vậy phải chăng điều tốt lại đă gây nên cái chết cho tôi? Không phải thế! Nhưng chính tội đă dùng điều tốt mà gây nên cái chết cho tôi: như vậy, tội để lộ chân tướng và cho thấy tất cả sức mạnh tội lỗi của nó.

Cuộc chiến đấu nội tâm

14 Vẫn biết rằng Lề Luật là bởi Thần Khí, nhưng tôi th́ lại mang tính xác thịt, bị bán làm tôi cho tội lỗi.15 Thật vậy, tôi làm ǵ tôi cũng chẳng hiểu: v́ điều tôi muốn, th́ tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, th́ tôi lại cứ làm.16 Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, th́ tức là tôi đồng ư với Lề Luật và nhận rằng Lề Luật là tốt.17 Vậy thật ra không c̣n phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi.18 Tôi biết rằng sự thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt tôi. Thật vậy, muốn sự thiện th́ tôi có thể muốn, nhưng làm th́ không.19 Sự thiện tôi muốn th́ tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm.20 Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, th́ không c̣n phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi.

21 Bởi đó tôi khám phá ra luật này: khi tôi muốn làm sự thiện th́ lại thấy sự ác xuất hiện ngay.22 Theo con người nội tâm, tôi vui thích v́ luật của Thiên Chúa;23 nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác: luật này chiến đấu chống lại luật của lư trí và giam hăm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong các chi thể tôi.

24 Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?25 Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta!
Như vậy, nếu theo lư trí, th́ tôi làm nô lệ luật của Thiên Chúa; nhưng theo xác thịt, th́ tôi làm nô lệ luật của tội.

B.  NGƯỜI TÍN HỮU SỐNG THEO THẦN KHÍ

Chương 8

Sống theo Thần Khí

8.  1 Vậy giờ đây, những ai ở trong Đức Ki-tô Giê-su, th́ không c̣n bị lên án nữa.2 Thật vậy, luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Ki-tô Giê-su, đă giải thoát tôi khỏi luật của tội và sự chết.3 Điều mà Lề Luật không thể làm được, v́ bị tính xác thịt làm cho ra suy yếu, th́ Thiên Chúa đă làm: khi sai chính Con ḿnh đến mang thân xác giống như thân xác tội lỗi chúng ta để đền tội chúng ta, Thiên Chúa đă lên án tội trong thân xác Con ḿnh.4 Thiên Chúa làm như vậy, để sự công chính mà Luật đ̣i hỏi được hoàn toàn thực hiện nơi chúng ta, là những người không sống theo tính xác thịt, nhưng theo Thần Khí.

5 Những ai sống theo tính xác thịt, th́ hướng về những ǵ thuộc tính xác thịt; c̣n những ai sống theo Thần Khí, th́ hướng về những ǵ thuộc Thần Khí.6 Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, c̣n hướng đi của Thần Khí là sự sống và b́nh an.7 Thật vậy, hướng đi của tính xác thịt là sự phản nghịch cùng Thiên Chúa, v́ tính xác thịt không phục tùng luật của Thiên Chúa, mà cũng không thể phục tùng được.8 Những ai bị tính xác thịt chi phối th́ không thể vừa ḷng Thiên Chúa.9 Nhưng anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi v́ Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em. Ai không có Thần Khí của Đức Ki-tô, th́ không thuộc về Đức Ki-tô.10 Nhưng nếu Đức Ki-tô ở trong anh em, th́ dầu thân xác anh em có phải chết v́ tội đă phạm, Thần Khí cũng ban cho anh em được sống, v́ anh em đă được trở nên công chính.11 Lại nữa, nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đă làm cho Đức Giê-su sống lại từ cơi chết, th́ Đấng đă làm cho Đức Giê-su sống lại từ cơi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới.

12 Vậy thưa anh em, chúng ta mang nợ, không phải mang nợ đối với tính xác thịt, để phải sống theo tính xác thịt.13 V́ nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, th́ anh em sẽ được sống.

Nhờ Thần Khí, chúng ta được làm con Thiên Chúa

14 Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa.15 Phần anh em, anh em đă không lănh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: “Áp-ba! Cha ơi! “16 Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa.17 Vậy đă là con, th́ cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, th́ tức là đồng thừa kế với Đức Ki-tô; v́ một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người.

Vinh quang dành cho ta

18 Thật vậy, tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta.19 Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người.20 Quả thế, muôn loài đă lâm vào cảnh hư ảo, không phải v́ chúng muốn, nhưng là v́ Thiên Chúa bắt chịu vậy; tuy nhiên, vẫn c̣n niềm trông cậy21 là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang.22 Thật vậy, chúng ta biết rằng: cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở.23 Không phải muôn loài mà thôi, cả chúng ta cũng rên siết trong ḷng: chúng ta đă lănh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng c̣n trông đợi Thiên Chúa ban cho trọn quyền làm con, nghĩa là cứu chuộc thân xác chúng ta nữa.24 Quả thế, chúng ta đă được cứu độ, nhưng vẫn c̣n phải trông mong. Thấy được điều ḿnh trông mong, th́ không c̣n phải là trông mong nữa: v́ ai lại trông mong điều ḿnh đă thấy rồi?25 Nhưng nếu chúng ta trông mong điều ḿnh chưa thấy, th́ đó là chúng ta bền chí đợi chờ.

26 Hơn nữa, lại có Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, v́ chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả.27 Và Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói ǵ, v́ Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng ư Thiên Chúa.

Ư định cứu độ của Thiên Chúa

28 Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ư Người định.29 V́ những ai Người đă biết từ trước, th́ Người đă tiền định cho họ nên đồng h́nh đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc.30 Những ai Thiên Chúa đă tiền định, th́ Người cũng kêu gọi; những ai Người đă kêu gọi, th́ Người cũng làm cho nên công chính; những ai Người đă làm cho nên công chính, th́ Người cũng cho hưởng phúc vinh quang.

Ca tụng t́nh yêu của Thiên Chúa

31 Vậy c̣n phải nói ǵ thêm nữa? Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai c̣n chống lại được chúng ta?32 Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đă trao nộp v́ hết thảy chúng ta. Một khi đă ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?33 Ai sẽ buộc tội những người Thiên Chúa đă chọn? Chẳng lẽ Thiên Chúa, Đấng làm cho nên công chính?34 Ai sẽ kết án họ? Chẳng lẽ Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đă chết, hơn nữa, đă sống lại, và đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta?

35 Ai có thể tách chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Đức Ki-tô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?36 Như có lời chép: Chính v́ Ngài mà mỗi ngày chúng con bị giết, bị coi như bầy cừu để sát sinh.

37 Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đă yêu mến chúng ta.

38 Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào,39 trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có ǵ tách được chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta.

C.  VẤN ĐỀ ÍT-RA-EN KHÔNG TIN

Chương 9

Các đặc ân dành cho Ít-ra-en

9.  1 Có Đức Ki-tô chứng giám, tôi xin nói sự thật, tôi không nói dối và lương tâm tôi, được Thánh Thần hướng dẫn, cũng làm chứng cho tôi rằng:2 ḷng tôi rất đỗi ưu phiền và đau khổ măi không ngơi.3 Quả vậy, giả như v́ anh em đồng bào của tôi theo huyết thống, mà tôi có bị nguyền rủa và xa ĺa Đức Ki-tô, th́ tôi cũng cam ḷng.4 Họ là người Ít-ra-en, họ đă được Thiên Chúa nhận làm con, được Người cho thấy vinh quang, ban tặng các giao ước, lề luật, một nền phụng tự và các lời hứa;5 họ là con cháu các tổ phụ; và sau hết, chính Đức Ki-tô, xét theo huyết thống, cũng cùng một ṇi giống với họ. Người là Thiên Chúa, Đấng vượt trên mọi sự. Chúc tụng Người đến muôn thuở muôn đời. A-men.

Thiên Chúa không thất tín

6 Nói thế không có nghĩa là lời Thiên Chúa đă hoá ra vô hiệu. V́ không phải tất cả con cháu ông Áp-ra-ham đều là dân Ít-ra-en;7 cũng như không phải v́ họ thuộc ḍng dơi ông Áp-ra-ham mà họ đều là con cái ông. Nhưng chính ḍng dơi I-xa-ác mới được mang tên ngươi,8 nghĩa là không phải hễ là con đẻ của ông Áp-ra-ham, th́ là con cái Thiên Chúa; nhưng con cái sinh ra do lời Thiên Chúa hứa mới được kể là chính tông.9 Thật vậy, lời hứa là thế này: Sang năm, cũng vào thời kỳ này, Ta sẽ trở lại và Xa-ra sẽ có một con trai.10 Không phải chỉ có thế: bà Rê-bê-ca đă có thai với một người duy nhất là ông I-xa-ác, tổ tiên chúng ta.11 Nhưng khi các con bà chưa sinh ra, và do đó chưa làm ǵ tốt hay xấu, th́ Thiên Chúa đă nói với bà: Thằng anh sẽ làm tôi thằng em. Như vậy là để giữ vững kế hoạch Thiên Chúa đă tự do chọn lựa,12 mà chọn không dựa vào việc người ta làm, nhưng dựa vào ư muốn của Thiên Chúa là Đấng kêu gọi.13 Như có lời chép: Ta yêu Gia-cóp mà ghét Ê-xau.

Thiên Chúa không bất công

14 Vậy phải nói sao? Chẳng lẽ Thiên Chúa bất công ư? Không phải thế!15 Quả vậy, Thiên Chúa đă phán với ông Mô-sê: Ta muốn thương xót ai th́ thương xót, muốn cảm thương ai th́ cảm thương.16 Vậy người ta được chọn không phải v́ muốn hay chạy vạy, nhưng v́ được Thiên Chúa thương xót.17 Quả thế, trong Kinh Thánh, Thiên Chúa cũng nói với Pha-ra-ô: Ta đă cất nhắc ngươi lên, chính là để dùng ngươi làm cớ cho mọi người thấy sức mạnh của Ta, và để cho danh Ta lẫy lừng trên khắp hoàn cầu.18 Vậy Thiên Chúa thương xót ai là tuỳ ư Người, và làm cho ai ra cứng cổ cũng tuỳ ư Người.

19 Hẳn bạn sẽ nói với tôi: “Vậy Thiên Chúa c̣n trách ǵ nữa? V́ ai cưỡng lại được ư Người? “20 Hỡi người, bạn là ai mà dám căi lại Thiên Chúa? Chẳng lẽ sản phẩm lại nói với người sản xuất: Sao ông làm ra tôi như thế này?21 Phải chăng thợ gốm không có quyền dùng đất sét theo ư ḿnh: từ cùng một nắm đất mà nắn ra đồ vật khác nhau, cái th́ dùng vào việc cao quư, cái th́ dùng vào việc thấp hèn.22 Thiên Chúa cũng vậy: dù muốn cho thấy cơn thịnh nộ và cho biết sức mạnh của Người, nhưng Người đă hết ḷng kiên nhẫn chịu đựng những kẻ đáng hứng chịu cơn thịnh nộ và chờ sẵn ngày diệt vong.23 Thiên Chúa cũng muốn cho biết vinh quang của Người dồi dào biết mấy đối với những kẻ được Người thương xót, những kẻ mà Người đă chuẩn bị trước cho họ lănh nhận vinh quang đó.24 Những kẻ ấy là chính chúng ta. Thiên Chúa đă kêu gọi chúng ta là những người không phải chỉ thuộc dân Do-thái, mà c̣n thuộc các dân ngoại nữa.

Cựu Ước thấy trước Ít-ra-en sẽ thất trung và dân ngoại sẽ được kêu gọi

25 Đó chính là điều Thiên Chúa phán trong sách Hô-sê: Dân trước đây không phải dân của Ta, Ta sẽ gọi là Dân của Ta; người chẳng được yêu, Ta sẽ gọi là Người Yêu.26 Và chính ở nơi đă nói về họ: “Các ngươi không phải là dân của Ta”, th́ ở đó họ sẽ được gọi là con cái của Thiên Chúa hằng sống.27 Ngôn sứ I-sai-a đă lớn tiếng nói về dân Ít-ra-en rằng: Dù số con cái Ít-ra-en có nhiều như cát biển, th́ chỉ phần c̣n sót lại mới được cứu.28 Quả thế, Đức Chúa sẽ thực hiện lời Người cách trọn vẹn và mau chóng trên mặt đất.29 Như ngôn sứ I-sai-a đă tiên báo: Nếu như Đức Chúa các đạo binh chẳng chừa lại cho chúng ta kẻ nối dơi, th́ chúng ta đă trở nên như thành Xơ-đom, và giống như thành Gô-mô-ra rồi.

30 Vậy phải nói sao? Phải nói rằng: các dân ngoại không t́m cách để được nên công chính, th́ được nên công chính, mà được nên công chính là nhờ đức tin.31 C̣n dân Ít-ra-en t́m một luật làm cho họ nên công chính th́ lại không đạt tới Luật đó.32 Tại sao thế? Tại v́ họ không t́m cách nên công chính nhờ đức tin, nhưng nhờ việc làm. Họ đă vấp phải ḥn đá làm cho vấp,33 như có lời chép rằng: Này đây Ta đặt tại Xi-on một ḥn đá làm cho vấp, một tảng đá làm cho ngă; nhưng kẻ tin vào đó sẽ không phải thất vọng.

Chương 10

Ít-ra-en không nhận biết rằngThiên Chúa làm cho con người nên công chính

10.  1 Thưa anh em, ḷng tôi những ước mong và tôi cầu xin cho dân Do-thái được cứu độ.2 Quả thế, tôi làm chứng cho họ là họ có ḷng nhiệt thành đối với Thiên Chúa, nhưng ḷng nhiệt thành đó không được sáng suốt3 họ không nhận biết rằng chính Thiên Chúa làm cho người ta nên công chính, và họ t́m cách nên công chính tự sức ḿnh. Như vậy là họ không tuân theo đường lối Thiên Chúa làm cho người ta nên công chính.4 Quả thế, cứu cánh của Lề Luật là Đức Ki-tô, khiến bất cứ ai tin đều được nên công chính.

Ông Mô-sê báo trước con người được nên công chính nhờ đức tin

5 Về việc người ta được nên công chính nhờ Lề Luật, ông Mô-sê có viết: Ai thực hành những điều Lề Luật dạy, th́ nhờ đó sẽ được sống.6 C̣n về việc người ta được nên công chính nhờ đức tin, th́ có lời nói: Đừng tự hỏi: ai sẽ lên trời? ngụ ư là: để đem Đức Ki-tô xuống.7 Cũng đừng hỏi: Ai sẽ xuống âm phủ? ngụ ư là: để đưa Đức Ki-tô lên từ cơi chết.8 Vậy Kinh Thánh nói ǵ? Thưa: Lời Thiên Chúa ở gần bạn, ngay trên miệng, ngay trong ḷng. Lời đó chính là lời chúng tôi rao giảng để khơi dậy đức tin.9 Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa, và ḷng bạn tin rằng Thiên Chúa đă làm cho Người sống lại từ cơi chết, th́ bạn sẽ được cứu độ.10 Quả thế, có tin thật trong ḷng, mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn cứu độ.11 Kinh Thánh nói: Mọi kẻ tin vào Người sẽ không phải thất vọng.12 Như vậy, không có sự khác biệt giữa người Do-thái và người Hy-lạp, v́ tất cả đều có cùng một Chúa, là Đấng quảng đại đối với tất cả những ai kêu cầu Người.13 V́: Tất cả những ai kêu cầu danh Đức Chúa sẽ được cứu thoát.

Ít-ra-en không tự bào chữa

14 Thế nhưng làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng?15 Làm sao mà rao giảng, nếu không được sai đi? Như có lời chép: Đẹp thay bước chân những sứ giả loan báo tin mừng!16 Nhưng không phải mọi người đều đă vâng theo Tin Mừng; chính ngôn sứ I-sai-a đă nói: Lạy Đức Chúa, ai đă tin khi nghe chúng con giảng?17 Ấy vậy, có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Ki-tô.

18 Nhưng tôi xin hỏi: Phải chăng họ đă không được nghe giảng? Có chứ!
Tiếng các ngài đă dội khắp hoàn cầu,
và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển.

19 Tôi xin hỏi thêm: Phải chăng dân Ít-ra-en đă không hiểu? Trước hết, ông Mô-sê nói: Ta sẽ làm cho các ngươi ganh tị với một dân không đáng gọi là dân, tức giận một dân ngu đần.20 Ông I-sai-a c̣n dám nói:
Những kẻ không t́m Ta, lại được gặp Ta;
những kẻ không hỏi Ta,
Ta đă xuất hiện cho chúng thấy.
21 C̣n về dân Ít-ra-en, ông nói: Suốt ngày Ta dang tay kêu gọi một dân không vâng lời và ngỗ nghịch.

Chương 11

Phần c̣n sót lại của Ít-ra-en

11.  1 Vậy tôi xin hỏi: Phải chăng Thiên Chúa đă ruồng bỏ dân Người? Không phải thế! Chính tôi đây cũng là người Ít-ra-en, thuộc ḍng dơi Áp-ra-ham, thuộc chi tộc Ben-gia-min.2 Thiên Chúa không ruồng bỏ dân Người, dân mà Người đă biết từ trước. Anh em chẳng biết truyện ông Ê-li-a trong Kinh Thánh sao? Khi cầu nguyện với Thiên Chúa, ông đă tố cáo dân Ít-ra-en rằng:3 Lạy Chúa, các ngôn sứ của Ngài, chúng đă giết chết; bàn thờ của Ngài, chúng đă phá huỷ. Chỉ c̣n sót lại một ḿnh con, thế mà chúng cũng đang t́m hại mạng sống con.4 Thiên Chúa trả lời ông thế nào? Ta chừa lại cho Ta bảy ngàn người, là những kẻ đă không quỳ gối thờ thần Ba-an.5 Ngày nay cũng vậy, c̣n sót lại một số người được tuyển chọn nhờ ân sủng của Thiên Chúa.6 Nhưng nếu được chọn nhờ ân sủng, th́ không phải là do việc làm, chẳng vậy ân sủng không c̣n là ân sủng nữa.

7 Vậy th́ sao? Điều mà Ít-ra-en t́m kiếm, th́ họ đă không đạt được; nhưng những kẻ được tuyển chọn đă đạt được. C̣n những người khác th́ đă ra cứng ḷng,8 như có lời chép: Thiên Chúa đă cho họ một thần khí hôn mê, cho họ mắt để không thấy, tai để không nghe, măi cho đến ngày nay.9 Vua Đa-vít cũng nói: Ước ǵ bàn tiệc của chúng nên ḍ, nên bẫy cho chúng sa vào, và nên cớ vấp ngă, nên h́nh phạt đích đáng!10 Ước ǵ mắt chúng mù đi không thấy nữa và lưng sụm xuống đến măn đời.

Thiên Chúa sẽ khôi phục Ít-ra-en

11 Vậy tôi xin hỏi: Phải chăng Ít-ra-en đă vấp đến mức phải ngă quỵ? Không phải thế! Nhưng v́ họ sa ngă mà Thiên Chúa cho các dân ngoại hưởng ơn cứu độ, khiến họ phải ganh tị.12 Nếu v́ người Do-thái sa ngă mà thế giới được ơn phúc dồi dào, nếu v́ họ suy vi mà các dân ngoại được ơn phúc dồi dào, th́ khi họ trở về đông đủ, t́nh trạng c̣n tốt đẹp hơn biết mấy!13 Tôi xin ngỏ lời với anh em là những người gốc dân ngoại. Với tư cách là Tông Đồ các dân ngoại, tôi coi trọng chức vụ của tôi,14 mong sao nhờ vậy mà tôi làm cho anh em đồng bào tôi phải ganh tị, và tôi cứu được một số anh em đó.15 Thật vậy, nếu v́ họ bị gạt ra một bên mà thế giới được hoà giải với Thiên Chúa, th́ việc họ được thâu nhận lại là ǵ, nếu không phải là từ cơi chết bước vào cơi sống?

Cây ô-liu dại và cây ô-liu tốt

16 Nếu cái bánh đầu tiên mà thánh th́ cả khối bột làm bánh cũng vậy; nếu rễ cây mà thánh, th́ cành cây cũng vậy.17 Một số cành cây ô-liu đă bị chặt đi, c̣n bạn là ô-liu dại đă được tháp vào đó, và cùng được hưởng sự sống dồi dào từ rễ cây ô-liu chính.18 V́ thế, bạn đừng có lên mặt khinh dể các cành khác. Th́ bạn cứ lên mặt đi! Đâu phải bạn mang rễ, mà là rễ mang bạn!19 Có lẽ bạn sẽ nói: “Một số cành đă bị chặt đi, để tôi được tháp vào.”20 Đúng thế! V́ họ không tin mà đă bị chặt đi, c̣n bạn v́ tin mà c̣n đó. Đừng có tự cao tự đại, nhưng phải sợ th́ hơn.21 Thật vậy, nếu những cành tự nhiên, mà Thiên Chúa đă không tha, th́ Người cũng sẽ chẳng tha bạn đâu.22 Bạn hăy xem Thiên Chúa nhân từ và nghiêm khắc thế nào: Người nghiêm khắc với những kẻ sa ngă, nhưng nhân từ với bạn, cứ một mực cậy nhờ vào ḷng nhân từ đó. Chẳng vậy, cả bạn nữa cũng sẽ bị chặt đi.23 C̣n người Do-thái, nếu họ từ bỏ thái độ ngoan cố chẳng chịu tin, th́ họ sẽ được tháp vào, v́ Thiên Chúa thừa sức tháp họ một lần nữa.24 Nếu bạn vốn là cành của cây ô-liu dại, mà c̣n được chặt đi và tháp vào cây ô-liu tốt, trái lẽ tự nhiên, th́ phương chi họ vốn là những cành của cây ô-liu chính, họ lại càng có thể được tháp vào cây cũ.

Ít-ra-en sẽ trở lại

25 Thưa anh em, tôi không muốn anh em chẳng hay biết mầu nhiệm này, để anh em đừng tự cho ḿnh là khôn, đó là: một phần dân Ít-ra-en đă ra cứng ḷng, cho đến khi các dân ngoại gia nhập đông đủ.26 Như vậy, toàn thể Ít-ra-en sẽ được cứu độ, như có lời chép: Từ núi Xi-on, vị Cứu Tinh sẽ đến, Người sẽ loại bỏ những điều vô đạo khỏi nhà Gia-cóp.27 Đó sẽ là giao ước của Ta với chúng, khi Ta xoá bỏ tội lỗi chúng.

28 Đối chiếu với Tin Mừng th́ họ là thù địch, điều đó có lợi cho anh em; nhưng theo ơn tuyển chọn, họ là những người được yêu thương, và đó là nhờ các tổ phụ.29 Quả thế, khi Thiên Chúa đă ban ơn và kêu gọi, th́ Người không hề đổi ư.

30 Thật vậy, trước kia anh em đă không vâng phục Thiên Chúa, nhưng nay anh em đă được thương xót, v́ họ không vâng phục;31 họ cũng thế: nay họ không vâng phục Thiên Chúa, v́ Người thương xót anh em, nhưng đó là để chính họ cũng được thương xót.32 Quả thế, Thiên Chúa đă giam hăm mọi người trong tội không vâng phục, để thương xót mọi người.

Ca tụng thánh ư nhiệm mầu

33 Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Quyết định của Người, ai ḍ cho thấu! Đường lối của Người, ai theo dơi được!34 Thật vậy, ai đă biết tư tưởng của Chúa? Ai đă làm cố vấn cho Người?35 Ai đă cho Người trước, để Người phải trả lại sau?36 V́ muôn vật đều do Người mà có, nhờ Người mà tồn tại và quy hướng về Người. Xin tôn vinh Thiên Chúa đến muôn đời! A-men.
KHUYÊN NHỦ

Chương 13

Cách thức xứng hợp để thờ phượng Thiên Chúa

12.  1 Thưa anh em, v́ Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hăy hiến dâng thân ḿnh làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp ḷng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người.2 Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hăy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ư Thiên Chúa: cái ǵ là tốt, cái ǵ đẹp ḷng Chúa, cái ǵ hoàn hảo.

Sống khiêm nhường và bác ái trong cộng đoàn

3 Dựa vào ân sủng Thiên Chúa đă ban cho tôi, tôi xin nói với từng người trong anh em: đừng đi quá mức khi đánh giá ḿnh, nhưng hăy đánh giá ḿnh cho đúng mức, mỗi người tuỳ theo lượng đức tin Thiên Chúa đă phân phát cho.4 Cũng như trong một thân thể, chúng ta có nhiều bộ phận, mà các bộ phận không có cùng một chức năng,5 th́ chúng ta cũng vậy: tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Đức Ki-tô, mỗi người liên đới với những người khác như những bộ phận của một thân thể.6 Chúng ta có những đặc sủng khác nhau, tuỳ theo ân sủng Thiên Chúa ban cho mỗi người. Được ơn làm ngôn sứ, th́ phải nói sao cho phù hợp với đức tin.7 Được ơn phục vụ, th́ phải phục vụ. Ai dạy bảo, th́ cứ dạy bảo.8 Ai khuyên răn, th́ cứ khuyên răn. Ai phân phát, th́ phải chân thành. Ai chủ toạ, th́ phải có nhiệt tâm. Ai làm việc bác ái th́ vui vẻ mà làm.

9 Ḷng bác ái không được giả h́nh giả bộ. Anh em hăy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành;10 thương mến nhau với t́nh huynh đệ, coi người khác trọng hơn ḿnh;11 nhiệt thành, không trễ nải; lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa.12 Hăy vui mừng v́ có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện.13 Hăy chia sẻ với những người trong dân thánh đang lâm cảnh thiếu thốn, và ân cần tiếp đăi khách đến nhà.

Bác ái đối với mọi người, kể cả thù địch

14 Hăy chúc lành cho những người bắt bớ anh em, chúc lành chứ đừng nguyền rủa:15 vui với người vui, khóc với người khóc.16 Hăy đồng tâm nhất trí với nhau, đừng tự cao tự đại, nhưng ham thích những ǵ hèn mọn. Anh em đừng cho ḿnh là khôn ngoan,17 đừng lấy ác báo ác, hăy chú tâm vào những điều mọi người cho là tốt.18 Hăy làm tất cả những ǵ anh em có thể làm được, để sống hoà thuận với mọi người.19 Anh em thân mến, đừng tự ḿnh báo oán, nhưng hăy để cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa làm việc đó, v́ có lời chép: Đức Chúa phán: Chính Ta sẽ báo oán, chính Ta sẽ đáp trả.20 Trái lại, kẻ thù ngươi có đói, hăy cho nó ăn; có khát, hăy cho nó uống; làm như vậy, ngươi sẽ chất than hồng lên đầu nó.21 Đừng để cho sự ác thắng được ḿnh, nhưng hăy lấy thiện mà thắng ác.

Chương 13

Phục tùng chính quyền

13.  1 Mỗi người phải phục tùng chính quyền, v́ không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập.2 Như vậy, ai chống đối quyền bính là chống lại trật tự Thiên Chúa đặt ra, và kẻ nào chống lại sẽ chuốc lấy án phạt.3 Thật thế, làm điều thiện th́ không phải sợ nhà chức trách, có làm điều ác mới phải sợ. Bạn muốn khỏi phải sợ chính quyền ư? Hăy làm điều thiện, và bạn sẽ được họ khen ngợi,4 v́ chính quyền là người thừa hành của Thiên Chúa để giúp bạn làm điều thiện. Nhưng nếu bạn làm điều ác, th́ hăy sợ, v́ họ mang gươm không phải không có lư do. Thật vậy, họ là người thừa hành của Thiên Chúa để giáng cơn thịnh nộ của Người xuống kẻ làm điều ác.5 V́ lẽ đó, cần thiết phải phục tùng, không những v́ sợ bị phạt, mà c̣n v́ lương tâm.6 Đó cũng là lư do khiến anh em nộp thuế: nhân viên thu thuế là những người phục vụ Thiên Chúa, khi chu toàn phận sự.7 Anh em nợ ai cái ǵ, th́ hăy trả cho người ta cái đó: nộp sưu cho người đ̣i sưu, trả thuế cho người đ̣i thuế, sợ người phải sợ, kính người phải kính.

Yêu thương là chu toàn Lề Luật

8 Anh em đừng mắc nợ ǵ ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; v́ ai yêu người, th́ đă chu toàn Lề Luật.9 Thật thế, các điều răn như: Ngươi không được ngoại t́nh, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu người thân cận như chính ḿnh.10 Đă yêu thương th́ không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy.

Người tín hữu là con cái ánh sáng

11 Phải như thế, v́ anh em biết chúng ta đang sống trong thời nào. Đă đến lúc anh em phải thức dậy, v́ hiện nay ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đă gần hơn trước kia, khi chúng ta mới tin đạo.12 Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hăy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu.13 Chúng ta hăy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đăng, cũng không căi cọ ghen tương.14 Nhưng anh em hăy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả măn các dục vọng.

Chương 14

Bác ái đối với người yếu tin

14.  1 Anh em hăy đón nhận người yếu đức tin và đừng tranh luận với họ.2 Có người tin ḿnh ăn được mọi thứ, có người v́ yếu chỉ ăn rau.3 Người ăn đừng có khinh kẻ không ăn, c̣n kẻ không ăn cũng đừng xét đoán người ăn, v́ Thiên Chúa đă đón nhận người ấy.4 Bạn là ai mà xét đoán người nhà của kẻ khác? Nó đứng hay nó ngă, đó là việc của chủ nó. Nhưng nó sẽ đứng, v́ Chúa có khả năng làm cho nó đứng.5 Người th́ cho rằng: ngày này trọng hơn ngày khác; kẻ th́ lại nghĩ: ngày nào cũng như nhau. Trong thâm tâm, mỗi người phải có xác tín.6 Ai để ư đến ngày này ngày nọ, th́ làm thế để kính Chúa. Người ăn, th́ v́ Chúa mà ăn, bởi lẽ họ tạ ơn Thiên Chúa. C̣n người không ăn, th́ không ăn v́ Chúa, họ cũng tạ ơn Thiên Chúa.7 Thật vậy, không ai trong chúng ta sống cho chính ḿnh, cũng như không ai chết cho chính ḿnh.8 Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa;9 v́ Đức Ki-tô đă chết và sống lại chính là để làm Chúa kẻ sống cũng như kẻ chết.10 Thế mà bạn, sao bạn lại xét đoán người anh em? Và bạn nữa, sao bạn khinh dể người anh em? Quả thế, tất cả chúng ta sẽ phải ra trước toà Thiên Chúa,11 v́ có lời chép rằng: Đức Chúa phán: Ta lấy sự sống Ta mà thề: mọi người sẽ quỳ gối lạy Ta, và mọi miệng lưỡi phải xưng tụng Thiên Chúa.12 Như vậy, mỗi người trong chúng ta sẽ phải trả lời về chính ḿnh trước mặt Thiên Chúa.

13 Vậy chúng ta đừng xét đoán nhau nữa. Tốt hơn, anh em hăy xét sao để tránh gây cớ cho anh em ḿnh phải vấp hay phải ngă.14 Trong Chúa Giê-su, tôi biết và xác tín rằng không có ǵ tự nó là ô uế; có ô uế là chỉ đối với người cho nó là ô uế.15 Nếu v́ bạn ăn một thức ăn, mà bạn làm phiền ḷng người anh em, th́ bạn không c̣n sống theo đức ái nữa. Đừng v́ chuyện ăn uống mà làm cho người anh em của bạn phải hư mất, v́ Đức Ki-tô đă chết cho người ấy.

16 Vậy đừng để cho thiên hạ chê bai điều mà anh em cho là tốt.17 V́ Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, b́nh an và hoan lạc trong Thánh Thần.18 Ai phục vụ Đức Ki-tô như thế, th́ đẹp ḷng Thiên Chúa và được người ta quư trọng.19 Vậy chúng ta hăy theo đuổi những ǵ đem lại b́nh an và những ǵ xây dựng cho nhau.20 Đừng v́ một thức ăn mà phá huỷ công tŕnh Thiên Chúa. Đă hẳn, mọi thức ăn đều thanh sạch; nhưng ăn mà gây cớ vấp ngă, th́ là điều xấu.21 Tốt nhất là đừng ăn thịt, uống rượu, và tránh những ǵ có thể gây cớ cho anh em ḿnh vấp ngă.

22 Bạn xác tín điều ǵ, th́ cứ giữ lấy cho ḿnh trước mặt Thiên Chúa. Phúc thay ai không cho ḿnh là có lỗi khi quyết định làm điều ǵ!23 C̣n ai hồ nghi mà cứ ăn, th́ bị kết án, v́ hành động không do xác tín. Hành động nào không do xác tín đều là tội.

Chương 15

15.  1 Bổn phận của chúng ta, những người có đức tin vững mạnh, là phải nâng đỡ những người yếu đuối, không có đức tin vững mạnh, chứ không phải chiều theo sở thích của ḿnh.2 Mỗi người chúng ta hăy chiều theo sở thích kẻ khác, v́ lợi ích của họ, và để xây dựng.3 Thật vậy, Đức Ki-tô đă không chiều theo sở thích của ḿnh; trái lại, như có lời chép: Lời kẻ thoá mạ Ngài, này chính con hứng chịu.4 Quả thế, mọi lời xưa đă chép trong Kinh Thánh, đều được chép để dạy dỗ chúng ta. Những lời ấy làm cho chúng ta nên kiên nhẫn, và an ủi chúng ta, để nhờ đó chúng ta vững ḷng trông cậy.

5 Xin Thiên Chúa là nguồn kiên nhẫn và an ủi, làm cho anh em được đồng tâm nhất trí với nhau, như Đức Ki-tô Giê-su đ̣i hỏi.6 Nhờ đó, anh em sẽ có thể hiệp ư đồng thanh mà tôn vinh Thiên Chúa, là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.

7 Vậy, anh em hăy đón nhận nhau, như Đức Ki-tô đă đón nhận anh em, để làm rạng danh Thiên Chúa.8 Thật vậy, tôi xin quả quyết: Đức Ki-tô có đến phục vụ những người được cắt b́, để thực hiện những ǵ Thiên Chúa đă hứa với tổ tiên họ, đó là do ḷng trung thành của Thiên Chúa.9 C̣n các dân ngoại có được tôn vinh Thiên Chúa, th́ đó là do ḷng thương xót của Người, như có lời chép: V́ thế giữa muôn dân con cất lời cảm tạ, dâng điệu hát cung đàn ca mừng danh thánh Chúa.10 Chỗ khác lại chép: Hỡi chư dân, hăy vui mừng với dân Thiên Chúa!11 Chỗ khác nữa: Muôn nước hỡi, nào ca ngợi Chúa, ngàn dân ơi, hăy chúc tụng Người!12 Ông I-sai-a cũng nói: Từ gốc tổ Gie-sê sẽ xuất hiện một mầm non, một Đấng sẽ đứng lên lănh đạo chư dân. Chư dân sẽ hy vọng nơi Người.

13 Xin Thiên Chúa là nguồn hy vọng, ban cho anh em được chan chứa niềm vui và b́nh an nhờ đức tin, để nhờ quyền năng của Thánh Thần, anh em được tràn trề hy vọng.

KẾT

Công việc phục vụ của thánh Phao-lô

14 Thưa anh em, chính tôi, tôi tin chắc rằng anh em có đầy thiện chí, thừa hiểu biết và có khả năng khuyên bảo nhau.15 Trong thư này, đôi chỗ tôi đă nói hơi mạnh, chẳng qua là để nhắc lại cho anh em điều anh em đă biết. Tôi viết thế là dựa vào ân sủng Thiên Chúa đă ban cho tôi16 làm người phục vụ Đức Giê-su Ki-tô giữa các dân ngoại, lo việc tế tự là rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa, để các dân ngoại được Thánh Thần thánh hoá mà trở nên một lễ phẩm đẹp ḷng Thiên Chúa.

17 Vậy, trong Đức Ki-tô Giê-su, tôi có quyền hănh diện về công việc phục vụ Thiên Chúa.18 Thật thế, tôi đâu dám nhắc đến chuyện nào khác, ngoài những ǵ Đức Ki-tô đă dùng tôi mà thực hiện để đưa các dân ngoại về phục vụ Thiên Chúa, thực hiện bằng lời nói việc làm,19 bằng sức mạnh của những dấu lạ điềm thiêng, bằng quyền năng của Thánh Thần. Như vậy, từ Giê-ru-sa-lem, đi ṿng đến tận miền I-ly-ri, tôi đă làm tṛn sứ mạng loan báo Tin Mừng Đức Ki-tô.20 Nhưng tôi chỉ có tham vọng là loan báo Tin Mừng ở những nơi người ta chưa được nghe nói đến danh Đức Ki-tô. Tôi làm thế v́ không muốn xây dựng trên nền móng người khác đă đặt.21 Trái lại, như có lời chép: Những kẻ đă không được loan báo về Người, sẽ thấy, những kẻ đă không được nghe nói về Người, sẽ hiểu.

Dự định mấy chuyến đi

22 Chính v́ lẽ đó mà đă bao lần tôi bị ngăn trở không thể đến với anh em.23 Nhưng bây giờ tôi không c̣n môi trường hoạt động trong những vùng này nữa; đàng khác, từ nhiều năm nay, tôi vẫn ước ao đến thăm anh em,24 khi nào tôi sang Tây Ban Nha. Tôi hy vọng trên đường đi sẽ ghé thăm anh em, và được anh em tiễn đưa qua đó, sau khi được thoả măn phần nào v́ đă gặp anh em.25 Nhưng bây giờ tôi c̣n phải đi Giê-ru-sa-lem để phục vụ dân thánh ở đó,26 v́ miền Ma-kê-đô-ni-a và miền A-khai-a đă có nhă ư đóng góp để giúp những người nghèo trong số dân thánh ở Giê-ru-sa-lem.27 Họ đă có nhă ư làm như vậy, nhưng thực ra họ cũng có bổn phận đối với dân thánh ở đó. Bởi v́ các dân ngoại đă được chia sẻ các phúc lộc thiêng liêng của dân thánh ở Giê-ru-sa-lem, th́ họ cũng có bổn phận dùng của cải vật chất mà giúp đỡ lại.28 Vậy khi đă hoàn thành công việc ấy và đă chính thức chuyển giao kết quả cuộc lạc quyên, tôi sẽ ghé thăm anh em trên đường đi Tây Ban Nha.29 Tôi biết rằng, khi đến thăm anh em, tôi sẽ đến với đầy đủ phúc lành của Đức Ki-tô.

30 Thưa anh em, v́ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, và v́ t́nh yêu của Thánh Thần, tôi khuyên nhủ anh em cùng chiến đấu với tôi, bằng cách cầu xin Thiên Chúa cho tôi,31 để tôi thoát khỏi tay những người miền Giu-đê không chịu tin và để dân thánh vui ḷng chấp nhận những ǵ tôi mang đến Giê-ru-sa-lem phục vụ họ.32 Như thế, tôi sẽ vui mừng đến với anh em và được nghỉ ngơi giữa anh em, nếu Thiên Chúa muốn.

33 Xin Thiên Chúa là nguồn b́nh an, ở cùng tất cả anh em. A-men.

Chương 16

Giới thiệu và chào thăm

16.  1 Tôi xin giới thiệu với anh em chị Phê-bê, người chị em của chúng tôi, là nữ trợ tá Hội Thánh Ken-khơ-rê.2 Mong anh em tiếp đón chị trong Chúa cách xứng đáng, như dân thánh phải đối xử với nhau. Chị có việc ǵ cần đến anh em, xin anh em giúp đỡ, v́ chính chị cũng đă bảo trợ cho nhiều người, kể cả tôi nữa.

3 Tôi xin gửi lời thăm chị Pơ-rít-ca và anh A-qui-la, những người cộng tác với tôi để phục vụ Đức Ki-tô Giê-su;4 hai anh chị đă liều mất đầu để cứu mạng tôi. Không chỉ ḿnh tôi, mà c̣n các Hội Thánh trong dân ngoại cũng phải mang ơn anh chị.5 Tôi cũng xin gửi lời thăm Hội Thánh vẫn họp tại nhà anh chị ấy.

6 Xin gửi lời thăm chị Ma-ri-a, người đă vất vả nhiều v́ anh em.7 Xin gửi lời thăm các anh An-rô-ni-cô và Giu-ni-a, bà con với tôi, và đă từng ngồi tù với tôi; các anh là những người xuất sắc trong các Tông Đồ, lại c̣n theo Đức Ki-tô trước tôi.8 Xin gửi lời thăm anh Am-li-át, bạn yêu quư của tôi trong Chúa.9 Xin gửi lời thăm anh Ua-ban, người cộng tác với chúng tôi trong Đức Ki-tô, và anh Ta-khy, bạn yêu quư của tôi.10 Xin gửi lời thăm anh A-pe-lê, người đă từng được tôi luyện trong Đức Ki-tô. Xin gửi lời thăm mọi người trong nhà anh A-rít-tô-bu-lô.11 Xin gửi lời thăm anh Hê-rô-đi-on, bà con với tôi. Xin gửi lời thăm bà con anh Na-ki-xô, những người đang ở trong Chúa.12 Xin gửi lời thăm hai chị Try-phen và Try-phô-xa, những người đang vất vả v́ Chúa. Xin gửi lời thăm chị Péc-xi-đê yêu quư, người đă vất vả nhiều v́ Chúa.13 Xin gửi lời thăm anh Ru-phô, người được Chúa chọn, và thăm mẹ của anh, cũng là mẹ của tôi.14 Xin gửi lời thăm các anh A-xinh-rít, Phơ-lê-gon, Héc-mê, Pát-rô-ba, Héc-ma và những anh em ở với các anh ấy.15 Xin gửi lời thăm anh Phi-lô-lô-gô và chị Giu-li-a, anh Nê-rê và cô em anh ấy, anh Ô-lim-pa và mọi người trong dân thánh đang ở với các anh chị ấy.16 Anh em hăy hôn chào nhau một cách thánh thiện. Tất cả các Hội Thánh Đức Ki-tô gửi lời chào anh em.

Tái bút lần thứ nhất: khuyên nhủ coi chừng

17 Thưa anh em, tôi khuyên nhủ anh em hăy coi chừng những kẻ gây chia rẽ và làm cớ vấp ngă, v́ đi ngược lại với đạo lư anh em đă học hỏi; anh em hăy xa lánh họ.18 Hạng người đó chẳng phục vụ Đức Ki-tô, Chúa chúng ta, mà phục vụ chính cái bụng của ḿnh. Họ dùng những lời ngọt ngào nịnh bợ mà quyến rũ những tâm hồn đơn sơ.19 Thật vậy, ai ai cũng biết rằng anh em vâng phục Thiên Chúa; bởi thế tôi lấy làm vui v́ anh em. Nhưng tôi muốn cho anh em khôn ngoan làm điều tốt, trong sạch không làm điều xấu.20 Thiên Chúa là nguồn b́nh an, chẳng bao lâu nữa sẽ đè bẹp Xa-tan, bắt nó phải ở dưới chân anh em. Nguyện xin Đức Giê-su, Chúa chúng ta, ban ân sủng cho anh em.

Tái bút lần thứ hai: chào thăm lần cuối

21 Anh Ti-mô-thê, người cộng tác với tôi, các anh Lu-ki-ô, Gia-xon và Xô-xi-pát-rô, bà con của tôi, gửi lời thăm anh em.22 Tôi là Téc-xi-ô, người chép thư này, xin gửi lời thăm anh em trong Chúa.23 Anh Gai-ô, người tiếp rước tôi và tiếp rước cả Hội Thánh trong nhà của anh, gửi lời thăm anh em. Anh Ê-rát-tô, quản lư kho bạc của thành phố, và anh Qua-tô, người anh em chúng tôi, gửi lời thăm anh em.24 Nguyện xin Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, ban ân sủng cho toàn thể anh em. A-men.

Vinh tụng ca

25 Vinh danh Thiên Chúa, Đấng có quyền năng làm cho anh em được vững mạnh theo Tin Mừng tôi loan báo, khi rao giảng Đức Giê-su Ki-tô. Tin Mừng đó mặc khải mầu nhiệm vốn được giữ kín tự ngàn xưa26 nhưng nay lại được biểu lộ như lời các ngôn sứ trong Sách Thánh. Theo lệnh của Thiên Chúa, Đấng hằng có đời đời, mầu nhiệm này được thông báo cho muôn dân biết, để họ tin mà vâng phục Thiên Chúa.27 Chỉ ḿnh Thiên Chúa là Đấng khôn ngoan thượng trí. Kính dâng Người mọi vinh quang đến muôn thuở muôn đời, nhờ Đức Giê-su Ki-tô. A-men.