THƯ 2 GỬI TÍN HỮU CÔ-RIN-TÔ

Chương 1

Lời chào thăm.  Lời cảm tạ

1.  1 Tôi là Phao-lô, bởi ư Thiên Chúa được làm Tông Đồ của Đức Ki-tô Giê-su, và Ti-mô-thê là người anh em, kính gửi Hội Thánh của Thiên Chúa ở Cô-rin-tô, cùng với mọi người trong dân thánh trong khắp miền A-khai-a.2 Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta và xin Chúa Giê-su Ki-tô ban cho anh em ân sủng và b́nh an.

3 Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu ḷng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an.4 Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi đă được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó.5 V́ cũng như chúng ta chia sẻ muôn vàn nỗi khổ đau của Đức Ki-tô, th́ nhờ Người, chúng ta cũng được chứa chan niềm an ủi.6 Chúng tôi có phải chịu gian nan, th́ đó là để anh em được an ủi và được cứu độ. Chúng tôi có được an ủi, th́ cũng là để anh em được an ủi, khiến anh em có sức kiên tŕ chịu đựng cùng những nỗi thống khổ mà chính chúng tôi phải chịu.7 Chúng tôi lấy làm an tâm về anh em, v́ biết rằng anh em thông phần thống khổ với chúng tôi thế nào, th́ cũng sẽ được thông phần an ủi như vậy.

8 Thật thế, thưa anh em, chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết ǵ về nỗi gian truân chúng tôi đă gặp bên A-xi-a: chúng tôi đă phải chịu đựng quá mức, quá sức chúng tôi, đến nỗi chúng tôi không c̣n hy vọng sống nổi.9 Nhưng chúng tôi đă mang án tử nơi chính bản thân rồi, để chúng tôi không tin tưởng vào chính ḿnh, mà vào Thiên Chúa, Đấng làm cho kẻ chết trỗi dậy.10 Chính Người đă cứu và sẽ c̣n cứu chúng tôi khỏi một cái chết như thế. Người là Đấng chúng tôi trông cậy, Người sẽ c̣n cứu chúng tôi nữa.11 C̣n anh em, hăy lấy lời cầu nguyện mà trợ giúp chúng tôi. Như vậy, Thiên Chúa sẽ ban ơn cho chúng tôi nhờ lời cầu thay nguyện giúp của nhiều người; và do đó, nhiều người sẽ cảm tạ Thiên Chúa v́ Người đă thương chúng tôi.

I. NHẮC LẠI NHỮNG SỰ VIỆC ĐĂ XẢY RA

Lư do khiến ông Phao-lô thay đổi lộ tŕnh

12 Điều khiến chúng tôi tự hào là lương tâm chúng tôi làm chứng rằng: chúng tôi lấy sự thánh thiện và chân thành Thiên Chúa ban mà cư xử với người ta ở đời, đặc biệt là với anh em. Chúng tôi không cư xử theo lẽ khôn ngoan người đời, nhưng theo ân sủng của Thiên Chúa.13 Thật thế, chúng tôi không viết cho anh em điều ǵ khác ngoài những điều anh em có thể đọc và hiểu được. Và tôi hy vọng anh em sẽ hiểu đến nơi đến chốn,14 như anh em đă hiểu chúng tôi phần nào: chúng tôi là niềm vinh dự của anh em, cũng như anh em là niềm vinh dự của chúng tôi trong Ngày của Đức Giê-su, Chúa chúng ta.

15 Với ḷng tin tưởng đó, tôi định đến với anh em trước để anh em được hưởng ân phúc lần thứ hai;16 rồi từ nơi anh em, tôi đi Ma-kê-đô-ni-a; sau đó lại từ Ma-kê-đô-ni-a về với anh em, để anh em đưa tôi đi Giu-đê.17 Dự tính như thế, phải chăng tôi đă tỏ ra nhẹ dạ? Hay điều tôi dự tính là dự tính theo kiểu người phàm, khiến tôi vừa nói “có” lại vừa nói “không”?18 Xin Thiên Chúa trung thành chứng giám cho chúng tôi! Lời chúng tôi nói với anh em chẳng phải vừa là “có” vừa là “không”.19 V́ Đức Ki-tô Giê-su, Con Thiên Chúa, Đấng mà chúng tôi, là Xin-va-nô, Ti-mô-thê và tôi, rao giảng cho anh em, đă không vừa là “có” vừa là “không”, nhưng nơi Người chỉ toàn là “có”.20 Quả thật, mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là “có” nơi Người. V́ thế, cũng nhờ Người mà chúng ta hô lên “A-men” để tôn vinh Thiên Chúa.21 Đấng củng cố chúng tôi cùng với anh em trong Đức Ki-tô và đă xức dầu cho chúng ta, Đấng ấy là Thiên Chúa.22 Chính Người cũng đă đóng ấn tín trên chúng ta và đổ Thần Khí vào ḷng chúng ta làm bảo chứng.

23 Phần tôi, có Thiên Chúa chứng giám, tôi xin lấy mạng sống mà thề rằng: chính v́ nể anh em mà tôi đă không đến Cô-rin-tô nữa.24 Không phải là chúng tôi khống chế đức tin của anh em; trái lại, chúng tôi góp phần tạo niềm vui cho anh em, bởi v́ đức tin của anh em đă vững rồi.

Chương 2

2.  1 Vậy, tôi đă quyết định không trở lại với anh em trong lúc ưu phiền.2 Thật thế, nếu chính tôi gây ưu phiền cho anh em, th́ ai là người làm cho tôi vui được, nếu không phải là kẻ ưu phiền v́ tôi?3 Tôi đă viết trong thư như vậy là để khi đến, tôi khỏi phải ưu phiền v́ chính những người đáng lẽ phải làm cho tôi vui, bởi v́ đối với tất cả anh em, tôi xác tín rằng niềm vui của tôi cũng là niềm vui của tất cả anh em.4 Thật thế, tôi đă vô cùng đau khổ, con tim se thắt, nước mắt chan hoà khi viết cho anh em: tôi viết không phải để gây ưu phiền, nhưng là để cho anh em biết tôi hết ḷng yêu mến anh em.

5 Nếu có ai đă gây ưu phiền, th́ không phải là gây ưu phiền cho tôi, mà cho tất cả anh em, một phần nào đó – nói thế, kẻo sợ quá lời.6 Con người đó bị số đông phạt như thế là đủ rồi.7 V́ vậy, tốt hơn, anh em phải tha thứ và an ủi, kẻo người đó bị ch́m đắm trong nỗi ưu phiền quá mức chăng.8 Cho nên, đối với người đó, tôi khuyên anh em hăy đặt t́nh bác ái lên trên hết.9 Thật thế, sở dĩ tôi đă viết thư cho anh em, là để thử anh em, xem anh em có vâng phục về mọi mặt chăng.10 Anh em tha thứ cho ai, th́ tôi cũng tha thứ cho người ấy. Và nếu tôi đă tha thứ -trong trường hợp phải tha thứ-, th́ cũng là v́ anh em, trước mặt Đức Ki-tô,11 kẻo chúng ta bị Xa-tan phỉnh gạt, v́ chúng ta không lạ ǵ ư đồ của nó.

Từ Trô-a đến Ma-kê-đô-ni-a. Viết ra ngoài đề: về sứ vụ tông đồ

12 Khi tôi đến Trô-a rao giảng Tin Mừng Đức Ki-tô, dù cửa đă mở cho tôi để làm việc Chúa,13 nhưng tôi vẫn không yên ḷng, v́ không gặp Ti-tô, người anh em của tôi. Tôi từ giă những người ở đó để đi Ma-kê-đô-ni-a.

14 Tạ ơn Thiên Chúa, Đấng hằng cho chúng tôi tham dự cuộc khải hoàn trong Đức Ki-tô, tạ ơn Người là Đấng đă dùng chúng tôi mà làm cho sự nhận biết Đức Ki-tô, như hương thơm, lan toả khắp nơi.15 V́ chúng tôi là hương thơm của Đức Ki-tô dâng kính Thiên Chúa, toả ra giữa những người được cứu độ cũng như những kẻ bị hư mất.16 Đối với những người bị hư mất, chúng tôi là mùi tử khí đưa đến tử vong; nhưng đối với những người được cứu độ, chúng tôi lại là hương sự sống đưa đến sự sống. Nhưng ai là người có khả năng thực hiện những điều ấy?17 Thật thế, chúng tôi không phải như nhiều người, những kẻ xuyên tạc Lời Chúa, mà với tư cách là những người trung thực, được Thiên Chúa sai đi, chúng tôi lên tiếng trước mặt Người, trong Đức Ki-tô.

Chương 3

3.  1 Phải chăng chúng tôi lại bắt đầu tự giới thiệu ḿnh? Hoặc chẳng lẽ, như vài người, chúng tôi lại cần có thư giới thiệu chúng tôi với anh em, hoặc thư của anh em giới thiệu chúng tôi?2 Thư giới thiệu chúng tôi là chính anh em. Thư ấy viết trong tâm hồn chúng tôi, mọi người đều biết và đă đọc.3 Rơ ràng anh em là bức thư của Đức Ki-tô được giao cho chúng tôi chăm sóc, không phải viết bằng mực đen, nhưng bằng Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống, không phải ghi trên những tấm bia bằng đá, nhưng trên những tấm bia bằng thịt, tức là ḷng người.

4 Nhờ Đức Ki-tô, chúng tôi dám tin tưởng vào Thiên Chúa như vậy.5 Không phải v́ tự chúng tôi, chúng tôi có khả năng để nghĩ rằng ḿnh làm được ǵ, nhưng khả năng của chúng tôi là do ơn Thiên Chúa,6 Đấng ban cho chúng tôi khả năng phục vụ Giao Ước Mới, không phải Giao Ước căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa vào Thần Khí. V́ chữ viết th́ giết chết, c̣n Thần Khí mới ban sự sống.7 Nếu việc phục vụ Lề Luật -thứ Lề Luật chỉ đưa đến sự chết và được khắc ghi từng chữ trên những bia đá- mà được vinh quang đến nỗi dân Ít-ra-en không thể nh́n mặt ông Mô-sê được, v́ mặt ông chói lọi vinh quang -dù đó chỉ là vinh quang chóng qua-,8 th́ việc phục vụ Thần Khí lại không được vinh quang hơn sao?9 V́ việc phục vụ án chết mà c̣n được vinh quang như thế, th́ việc phục vụ đức công chính lại chẳng vinh quang hơn lắm sao?10 So với vinh quang tuyệt vời này, th́ vinh quang xưa kia chẳng vinh quang ǵ.11 Thật vậy, nếu cái chóng qua mà c̣n được vinh quang, th́ cái c̣n măi lại chẳng vinh quang hơn sao?

12 V́ có một niềm hy vọng như thế mà chúng ta thật vững dạ an ḷng.13 Chúng ta không làm như ông Mô-sê lấy màn che để dân Ít-ra-en khỏi thấy khi nào cái chóng qua kia chấm dứt.14 Nhưng trí họ đă ra mê muội. Thật vậy, cho đến ngày nay, khi họ đọc Cựu Ước, tấm màn ấy vẫn c̣n, chưa được vén lên, v́ chỉ trong Đức Ki-tô, tấm màn ấy mới được vứt bỏ.15 Phải, cho đến nay, mỗi khi họ đọc sách ông Mô-sê, tấm màn vẫn che phủ ḷng họ.16 Nhưng khi người ta quay lại với Chúa, th́ tấm màn mới được cất đi.17 Chúa là Thần Khí, và ở đâu có Thần Khí của Chúa, th́ ở đó có tự do.18 Tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một h́nh ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí.

Chương 4

4.  1 Bởi thế, v́ Thiên Chúa đoái thương giao cho chúng tôi công việc phục vụ, nên chúng tôi không sờn ḷng nản chí.2 Trái lại, chúng tôi khước từ những cách hành động ám muội, đáng xấu hổ, và không dùng mưu mô mà xử trí, cũng chẳng xuyên tạc lời Thiên Chúa; nhưng chúng tôi giăi bày sự thật, và bằng cách đó, chúng tôi để cho lương tâm mọi người phê phán trước mặt Thiên Chúa.3 Tin Mừng chúng tôi rao giảng có bị che khuất, th́ chỉ bị che khuất đối với những người hư mất,4 đối với những kẻ không tin. Họ không tin, v́ tên ác thần của đời này đă làm cho tâm trí họ ra mù quáng, khiến họ không thấy bừng sáng lên Tin Mừng nói về vinh quang của Đức Ki-tô, là h́nh ảnh Thiên Chúa.5 Bởi chúng tôi không rao giảng chính ḿnh, mà chỉ rao giảng Đức Ki-tô Giê-su là Chúa; c̣n chúng tôi, chúng tôi chỉ là tôi tớ của anh em, v́ Đức Giê-su.6 Quả thật, xưa Thiên Chúa đă phán: Ánh sáng hăy bừng lên từ nơi tối tăm! Người cũng làm cho ánh sáng chiếu soi ḷng trí chúng tôi, để tỏ bày cho thiên hạ được biết vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời trên gương mặt Đức Ki-tô.

Gian truân và hy vọng trong công việc tông đồ

7 Nhưng kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong những b́nh sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi.8 Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng;9 bị ngược đăi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngă, nhưng không bị tiêu diệt.10 Chúng tôi luôn mang nơi thân ḿnh cuộc thương khó của Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân ḿnh chúng tôi.11 Thật vậy, tuy sống, chúng tôi hằng bị cái chết đe doạ v́ Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân xác phải chết của chúng tôi.12 Như thế, sự chết hoạt động nơi chúng tôi, c̣n sự sống th́ lại hoạt động nơi anh em.

13 V́ có được cùng một ḷng tin, như đă chép: Tôi đă tin, nên tôi mới nói, th́ chúng tôi cũng tin, nên chúng tôi mới nói.14 Quả thật, chúng tôi biết rằng Đấng đă làm cho Chúa Giê-su trỗi dậy cũng sẽ làm cho chúng tôi được trỗi dậy với Chúa Giê-su, và đặt chúng tôi bên hữu Người cùng với anh em.15 Thật vậy, tất cả những điều ấy xảy ra là v́ anh em. Như thế, ân sủng càng dồi dào, th́ càng có đông người hơn dâng lên Thiên Chúa muôn ngàn lời cảm tạ, để tôn vinh Người.

16 Cho nên chúng tôi không chán nản. Trái lại, dù con người bên ngoài của chúng tôi có tiêu tan đi, th́ con người bên trong của chúng tôi ngày càng đổi mới.17 Thật vậy, một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời.18 V́ thế, chúng ta mới không chú tâm đến những sự vật hữu h́nh, nhưng đến những thực tại vô h́nh. Quả vậy, những sự vật hữu h́nh th́ chỉ tạm thời, c̣n những thực tại vô h́nh mới tồn tại vĩnh viễn.

Chương 5

5.  1 Quả thật, chúng ta biết rằng: nếu ngôi nhà của chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá huỷ đi, th́ chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời, không do tay người thế làm ra.2 Do đó, chúng ta rên siết là v́ những ước mong được thấy ngôi nhà thiên quốc của chúng ta phủ lên chiếc lều kia,3 miễn là chúng ta có mặc áo, chứ không phải trần trụi.4 Thật thế, bao lâu c̣n ở trong chiếc lều này, chúng ta rên siết, khổ tâm v́ không muốn cởi bỏ cái này, nhưng lại muốn trùm thêm lên ḿnh cái kia, để cho cái phải chết tiêu tan trong sự sống.5 Đấng đă tạo thành chúng ta v́ mục đích ấy chính là Thiên Chúa, Người đă ban Thần Khí cho chúng ta làm bảo chứng.

6 Vậy chúng tôi luôn mạnh dạn, và chúng tôi biết rằng: ở lại trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa,7 v́ chúng ta tiến bước nhờ ḷng tin chứ không phải nhờ được thấy Chúa…8 Vậy, chúng tôi luôn mạnh dạn, và điều chúng tôi thích hơn, đó là ĺa bỏ thân xác để được ở bên Chúa.9 Nhưng, dù c̣n ở trong thân xác hoặc đă ĺa bỏ thân xác, chúng tôi chỉ có một tham vọng là làm đẹp ḷng Người.10V́ tất cả chúng ta đều phải được đưa ra ánh sáng, trước toà Đức Ki-tô, để mỗi người lănh nhận những ǵ tương xứng với các việc tốt hay xấu đă làm, khi c̣n ở trong thân xác.

Thi hành sứ vụ tông đồ

11 Vậy, v́ biết kính sợ Chúa, chúng tôi cố gắng thuyết phục người ta; c̣n đối với Thiên Chúa, th́ mọi sự nơi chúng tôi đều lộ trần trước mặt Người. Và tôi hy vọng rằng mọi sự nơi chúng tôi cũng lộ trần như vậy trước lương tâm của anh em.12 Chúng tôi không nói hay cho ḿnh để tự giới thiệu một lần nữa với anh em, nhưng cho anh em một cơ hội tự hào về chúng tôi, để anh em có thể trả lời cho những ai chỉ biết kiêu hănh về những vẻ bề ngoài, chứ không phải về những ǵ trong tâm hồn.13 Thật vậy, chúng tôi có điên, th́ cũng là v́ Thiên Chúa; chúng tôi có khôn, th́ cũng là v́ anh em.14 T́nh yêu Đức Ki-tô thôi thúc chúng tôi, v́ chúng tôi nghĩ rằng: nếu một người đă chết thay cho mọi người, th́ mọi người đều chết.15 Đức Ki-tô đă chết thay cho mọi người, để những ai đang sống không c̣n sống cho chính ḿnh nữa, mà sống cho Đấng đă chết và sống lại v́ ḿnh.

16 V́ thế, từ đây chúng tôi không c̣n biết một ai theo quan điểm loài người. Và cho dù chúng tôi đă được biết Đức Ki-tô theo quan điểm loài người, th́ giờ đây chúng tôi không c̣n biết Người như vậy nữa.17 Cho nên, phàm ai ở trong Đức Ki-tô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đă qua, và cái mới đă có đây rồi.18 Mọi sự ấy đều do bởi Thiên Chúa là Đấng đă nhờ Đức Ki-tô mà cho chúng ta được hoà giải với Người, và trao cho chúng tôi chức vụ hoà giải.19 Thật vậy, trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa đă cho thế gian được hoà giải với Người. Người không c̣n chấp tội nhân loại nữa, và giao cho chúng tôi công bố lời hoà giải.20 V́ thế, chúng tôi là sứ giả thay mặt Đức Ki-tô, như thể chính Thiên Chúa dùng chúng tôi mà khuyên dạy. Vậy, nhân danh Đức Ki-tô, chúng tôi nài xin anh em hăy làm hoà với Thiên Chúa.21 Đấng chẳng hề biết tội là ǵ, th́ Thiên Chúa đă biến Người thành hiện thân của tội lỗi v́ chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người.

Chương 6

6.  1 V́ được cộng tác với Thiên Chúa, chúng tôi khuyên nhủ anh em: anh em đă lănh nhận ân huệ của Thiên Chúa, th́ đừng để trở nên vô hiệu.2 Quả thế, Chúa phán rằng: Ta đă nhận lời ngươi vào thời Ta thi ân, phù trợ ngươi trong ngày Ta cứu độ. Vậy, đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ.3 Phần chúng tôi, chúng tôi chẳng làm ǵ gây cớ cho ai vấp phạm, để không người nào có thể đàm tiếu về công việc phục vụ của chúng tôi.4 Trái lại, trong mọi sự, chúng tôi luôn chứng tỏ ḿnh là những thừa tác viên của Thiên Chúa: gian nan, khốn quẫn, lo âu,5 đ̣n vọt, tù tội, loạn ly, nhọc nhằn, vất vả, mất ăn mất ngủ, chúng tôi đều rất mực kiên tŕ chịu đựng.6 Chúng tôi c̣n chứng tỏ điều đó bằng cách ăn ở trong sạch, khôn khéo, nhẫn nhục, nhân hậu, bằng một tinh thần thánh thiện, một t́nh thương không giả dối,7 bằng lời chân lư, bằng sức mạnh của Thiên Chúa. Chúng tôi lấy sự công chính làm vũ khí tấn công và tự vệ,8 khi vinh cũng như khi nhục, lúc được tiếng tốt cũng như khi mang tiếng xấu. Bị coi là bịp bợm, nhưng kỳ thực chúng tôi chân thành;9 bị coi là vô danh tiểu tốt, nhưng kỳ thực chúng tôi được mọi người biết đến; bị coi là sắp chết, nhưng kỳ thực chúng tôi vẫn sống; coi như bị trừng phạt, nhưng kỳ thực không bị giết chết;10 coi như phải ưu phiền, nhưng kỳ thực chúng tôi luôn vui vẻ; coi như nghèo túng, nhưng kỳ thực chúng tôi làm cho bao người trở nên giàu có; coi như không có ǵ, nhưng kỳ thực chúng tôi có tất cả.

Ông Phao-lô thố lộ tâm t́nh và cảnh cáo

11 Thưa anh em người Cô-rin-tô, chúng tôi đă chân thành ngỏ lời với anh em, chúng tôi đă mở rộng tấm ḷng.12 Chúng tôi không hẹp ḥi với anh em đâu, nhưng chính ḷng dạ anh em hẹp ḥi.13 Vậy anh em hăy đền đáp chúng tôi; tôi nói với anh em như nói với con cái: anh em cũng hăy mở rộng tấm ḷng.

14 Anh em đừng mang chung một ách với những kẻ không tin. Thật thế, làm sao sự công chính lại liên kết được với sự bất chính? Làm sao ánh sáng lại dung hoà được với bóng tối?15 Làm sao Đức Ki-tô lại hoà hợp được với Bê-li-a? Làm sao người tin lại chung phần được với người không tin?16 Làm sao đền thờ Thiên Chúa lại đi đôi với tà thần được? V́ chính chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa hằng sống, như lời Người phán: Ta sẽ đến cư ngụ và đi đi lại lại giữa họ. Ta sẽ là Thiên Chúa của họ, và họ sẽ là dân riêng của Ta.17 V́ thế, hăy ra khỏi dân ấy, hăy rời xa chúng – Chúa phán như vậy. Đừng có đụng tới vật ô uế nào, và Ta sẽ đón nhận các ngươi.18 Ta sẽ là Cha các ngươi, và các ngươi sẽ là con trai, con gái của Ta. Chúa toàn năng phán như vậy.

Chương 7

7.  1 Anh em thân mến, v́ nắm được những lời hứa ấy, nên chúng ta hăy tẩy rửa hồn xác cho sạch mọi vết nhơ, và đem ḷng kính sợ Thiên Chúa mà lo đạt tới mức thánh thiện hoàn toàn.
2 Anh em hăy dành cho chúng tôi một chỗ trong ḷng anh em. Chúng tôi đă không làm hại ai, không làm cho ai phải sạt nghiệp, không bóc lột ai.3 Tôi nói thế không phải để lên án anh em, v́ tôi đă từng nói: anh em hằng ở trong ḷng chúng tôi, sống chết chúng ta đều có nhau.4 Tôi rất tin tưởng anh em, tôi rất hănh diện về anh em. Tâm hồn tôi chứa chan niềm an ủi và tràn ngập nỗi vui mừng trong mọi cơn gian nan khốn khó.

Ông Phao-lô gặp lại ông Ti-tô ở Ma-kê-đô-ni-a

5 Thật thế, khi đến Ma-kê-đô-ni-a, thân xác chúng tôi chẳng được nghỉ ngơi chút nào; trái lại, ở đâu cũng gặp gian nan khốn khó: bên ngoài phải chiến đấu, bên trong phải lo sợ.6 Nhưng Thiên Chúa, Đấng an ủi những kẻ yếu hèn, đă an ủi chúng tôi bằng cách sai anh Ti-tô đến.7 Chúng tôi được an ủi không những v́ anh Ti-tô đến, mà c̣n v́ anh ấy đă được anh em an ủi. Anh ấy đă cho chúng tôi biết là anh em nóng ḷng mong đợi, buồn phiền, nhưng vẫn đầy nhiệt t́nh đối với tôi, khiến tôi càng vui mừng hơn nữa.

8 Dù trong bức thư trước tôi có làm cho anh em phải ưu phiền, tôi cũng không hối tiếc. Mà giả như có hối tiếc -v́ thấy rằng bức thư ấy đă làm cho anh em phải ưu phiền, tuy chỉ trong chốc lát-,9 th́ nay tôi lại vui mừng, không phải v́ đă làm cho anh em phải ưu phiền, nhưng v́ nỗi ưu phiền đó đă làm cho anh em hối cải. Thật thế, anh em đă phải ưu phiền theo ư Thiên Chúa, nên chúng tôi không làm thiệt hại ǵ cho anh em.10 Quả vậy, nỗi ưu phiền theo ư Thiên Chúa làm cho chúng ta hối cải để được cứu độ: đó là điều không bao giờ phải hối tiếc; c̣n nỗi ưu phiền theo kiểu thế gian th́ gây ra sự chết.11 Hăy xem nỗi ưu phiền theo ư Thiên Chúa đă đem lại cho anh em những ǵ: bao nồng nhiệt, và hơn thế nữa, bao lời xin lỗi, bao ân hận, bao sợ hăi, bao ước mong, bao nhiệt t́nh, bao h́nh phạt; bằng mọi cách, anh em đă chứng tỏ ḿnh vô can trong vụ này.12 Vậy, nếu tôi đă viết thư cho anh em, th́ không phải v́ kẻ làm nhục hay người bị nhục, nhưng để cho thái độ nồng nhiệt của anh em đối với chúng tôi được tỏ hiện nơi anh em, trước mặt Thiên Chúa.13 Đó là điều an ủi chúng tôi.

14 Nếu trước mặt anh ấy, tôi đă có đôi chút tự hào về anh em, th́ tôi cũng không hổ thẹn. Trái lại, trong mọi sự, chúng tôi đă nói thật với anh em thế nào, th́ thái độ tự hào của chúng tôi trước mặt anh Ti-tô cũng chân thật như vậy.15 Ḷng anh ấy càng tha thiết quư mến anh em, khi nhớ lại anh em đă vâng lời, đă kính sợ và run rẩy đón tiếp anh.16 Tôi vui mừng v́ trong mọi sự tôi có thể tin cậy anh em.

II. TỔ CHỨC LẠC QUYÊN

Chương 8

Những lư do chứng tỏ ḷng quảng đại

8.  1 Thưa anh em, chúng tôi xin báo cho anh em biết ân huệ Thiên Chúa đă ban cho các Hội Thánh ở Ma-kê-đô-ni-a.2 Trải qua bao nỗi gian truân, họ vẫn được chan chứa niềm vui; giữa cảnh khó nghèo cùng cực, họ lại trở nên những người giàu ḷng quảng đại.3 Họ đă tự nguyện theo sức họ, và tôi xin làm chứng là quá sức họ nữa;4 họ khẩn khoản nài xin chúng tôi cho họ được phúc tham dự vào việc phục vụ các người trong dân thánh.5 Họ đă vượt quá điều chúng tôi mong ước là tự hiến ḿnh phụng sự Chúa trước, rồi phục vụ chúng tôi theo ư Thiên Chúa.6 V́ vậy chúng tôi đă xin anh Ti-tô hoàn thành công việc lạc quyên đó nơi anh em, như anh ấy đă bắt đầu làm.

7 Cũng như anh em từng trổi vượt về mọi mặt: về đức tin, lời giảng, sự hiểu biết, ḷng nhiệt thành trong mọi lănh vực, và về ḷng bác ái mà anh em đă học được nơi chúng tôi, th́ anh em cũng phải trổi vượt về ḷng quảng đại trong dịp lạc quyên này nữa.8 Tôi nói thế không phải để ra lệnh cho anh em đâu. Nhưng tôi chỉ nêu lên ḷng nhiệt thành của người khác để xem ḷng yêu mến của anh em chân thành đến mức nào.9 Quả thật, anh em biết Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, đă có ḷng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quư, nhưng đă tự ư trở nên nghèo khó v́ anh em, để lấy cái nghèo của ḿnh mà làm cho anh em trở nên giàu có.10 Về điều này, tôi xin đưa ra một ư kiến. Ư kiến đó thích hợp với anh em, v́ anh em là những người đầu tiên, chẳng những đă thực hiện công cuộc đó, mà c̣n đă quyết định làm ngay từ năm ngoái.11 Vậy nay anh em hăy hoàn thành công cuộc đó, để như anh em đă hăng hái quyết định thế nào, th́ cũng tuỳ khả năng mà hoàn thành như vậy.12 V́ khi người ta hăng hái dâng cái ḿnh có, th́ Thiên Chúa chấp nhận; c̣n nếu không có th́ thôi.13 Vấn đề không phải là bắt anh em sống eo hẹp để cho người khác bớt nghèo khổ. Điều cần thiết là phải có sự đồng đều.14 Trong hoàn cảnh hiện tại, anh em có được dư giả, là để giúp đỡ những người đang lâm cảnh túng thiếu, để rồi khi được dư giả, họ cũng sẽ giúp đỡ anh em, lúc anh em lâm cảnh túng thiếu. Như thế, sẽ có sự đồng đều,15 hợp với lời đă chép: Kẻ được nhiều th́ không dư, mà người được ít th́ không thiếu.

Gửi gắm ông Ti-tô và các bạn đồng hành

16 Cảm tạ Thiên Chúa đă đặt vào ḷng anh Ti-tô một sự nhiệt thành như thế đối với anh em:17 anh đă nhận lời yêu cầu của tôi và đă nhiệt thành tự nguyện tới thăm anh em.18 Cùng với anh Ti-tô, chúng tôi cử một người anh em rao giảng Tin Mừng nổi tiếng trong khắp các Hội Thánh.19 Không những thế, anh lại được các Hội Thánh chỉ định cùng đi với chúng tôi lo việc lạc quyên, một việc nghĩa chúng tôi đảm nhận, để tôn vinh Chúa và biểu lộ ḷng hăng hái của chúng tôi.20 Chúng tôi đề pḥng như thế, để không ai chê trách được chúng tôi về món tiền lớn chúng tôi chịu trách nhiệm.21 V́ chúng tôi quan tâm đến điều thiện, không những trước mặt Chúa, mà cả trước mặt người ta.22 Chúng tôi lại cử thêm một người anh em nữa của chúng tôi cùng đi với hai người nói trên. Chúng tôi thường hay có dịp thử ḷng nhiệt thành của anh ấy bằng nhiều cách; và nay anh c̣n nhiệt thành hơn nữa, v́ đầy ḷng tin tưởng vào anh em.23 Về phần anh Ti-tô, anh vừa là bạn đường, vừa là người cộng tác với tôi trong việc phục vụ anh em. C̣n về hai người anh em kia của chúng tôi, họ là sứ giả của các Hội Thánh và là vinh quang của Đức Ki-tô.24 Vậy, trước mặt các Hội Thánh, anh em hăy tỏ cho những người đó thấy đức ái của anh em, và cho họ biết là chúng tôi có lư để tự hào về anh em.

Chương 9

9.  1 Về việc phục vụ các người trong dân thánh, tôi có viết cho anh em th́ kể cũng bằng thừa,2 v́ tôi biết ḷng hăng hái của anh em. Điều đó làm cho tôi tự hào v́ anh em mà khoe với các anh em vùng Ma-kê-đô-ni-a rằng: “Xứ A-khai-a đă sẵn sàng từ năm ngoái”. Và nhiệt t́nh của anh em đă khích lệ rất nhiều người.3 Tôi cử mấy người anh em đi để niềm tự hào của chúng tôi về thiện chí của anh em khỏi trở thành hư ảo, và để anh em được sẵn sàng, như tôi đă nói.4 Chẳng vậy, lúc anh em Ma-kê-đô-ni-a cùng đến với tôi mà thấy anh em không sẵn sàng, th́ chúng tôi phải xấu hổ v́ đă tin cậy như thế, nếu không muốn nói là cả anh em nữa cũng phải xấu hổ.5 Vậy, tôi nghĩ cần phải xin mấy người anh em đến với anh em trước chúng tôi và chuẩn bị cho anh em quyên góp rộng răi như đă hứa, để anh em sẵn sàng quyên góp với ḷng quảng đại, chứ không phải theo tính hẹp ḥi.

Ích lợi của cuộc lạc quyên

6 Tôi xin nói điều này: gieo ít th́ gặt ít; gieo nhiều th́ gặt nhiều.7 Mỗi người hăy cho tuỳ theo quyết định của ḷng ḿnh, không buồn phiền, cũng không miễn cưỡng, v́ ai vui vẻ dâng hiến, th́ được Thiên Chúa yêu thương.8 Vả lại, Thiên Chúa có đủ quyền tuôn đổ xuống trên anh em mọi thứ ân huệ, để anh em vừa được luôn đầy đủ mọi mặt, vừa được dư thừa mà làm mọi việc thiện,9 theo như lời đă chép: Kẻ túng nghèo, Người rộng tay làm phúc; đức công chính của Người tồn tại muôn đời.

10 Đấng cung cấp hạt giống cho kẻ gieo, và bánh làm của ăn nuôi dưỡng, tất sẽ cung cấp dư dật hạt giống cho anh em gieo, và sẽ làm cho đức công chính của anh em sinh hoa kết quả dồi dào.11 Anh em sẽ được sung túc mọi bề để làm mọi việc thiện cách rộng răi. Những việc chúng ta làm sẽ khiến người ta dâng lời cảm tạ Thiên Chúa.12 Thật thế, việc phục vụ cho công ích này không những đáp ứng nhu cầu của của các người trong dân thánh, mà hơn thế nữa, c̣n là nguồn phát sinh bao lời cảm tạ dâng lên Thiên Chúa.13 Việc phục vụ này là một bằng cớ cho họ tôn vinh Thiên Chúa, v́ thấy anh em vâng phục và tuyên xưng Tin Mừng của Đức Ki-tô, và v́ thấy anh em có ḷng quảng đại, sẵn sàng chia sẻ với họ và với mọi người.14 C̣n họ, họ sẽ cầu nguyện cho anh em để tỏ ḷng quư mến, bởi nhận thấy ân huệ tuyệt vời Thiên Chúa đổ xuống trên anh em.15 Xin cảm tạ Thiên Chúa v́ phúc lộc khôn tả Người ban!

III. ÔNG PHAO-LÔ TỰ BIỆN HỘ

Chương 10

Ông Phao-lô trả lời những kẻ trách ông nhu nhược

10.  1 Chính tôi, Phao-lô, một kẻ trước mặt anh em th́ khúm núm, mà vắng mặt th́ lại ra oai, tôi xin dựa vào ḷng nhân từ và khoan dung của Đức Ki-tô mà khuyên nhủ anh em.2 Tôi xin anh em chớ bắt buộc tôi, khi có mặt, phải mạnh dạn ra oai mà tính đến chuyện thẳng tay với những kẻ cho rằng chúng tôi chỉ biết sống theo tính xác thịt.3 Quả thế, chúng tôi đang sống trong xác phàm, nhưng không chiến đấu theo tính xác thịt.4 Thật vậy, khí giới chúng tôi dùng để chiến đấu không phải là thứ khí giới thuộc xác thịt, nhưng là những khí giới, nhờ Thiên Chúa, có sức đánh đổ các đồn luỹ. Chúng tôi đánh đổ các kiểu lư luận5 và mọi thái độ kiêu căng chống lại sự hiểu biết Thiên Chúa. Chúng tôi bắt mọi tư tưởng phải đầu hàng để đi tới chỗ vâng phục Đức Ki-tô.6 Chúng tôi sẵn sàng sửa trị mọi kẻ bất tuân, một khi anh em đă hoàn toàn vâng phục.

7 Anh em hăy nh́n nhận những ǵ sờ sờ trước mắt. Nếu có ai tự phụ ḿnh thuộc về Đức Ki-tô, th́ hăy nhận thức một lần nữa điều này: họ thuộc về Đức Ki-tô làm sao, th́ chúng tôi cũng vậy.8 V́ cho dầu tôi có tự hào quá đáng một đôi chút về quyền Chúa đă ban cho chúng tôi để xây dựng, chứ không phải để đánh đổ anh em, th́ tôi cũng không lấy làm xấu hổ,9 kẻo như muốn dùng thư từ mà làm cho anh em phải khiếp sợ.10 Có kẻ nói rằng: “Trong thư th́ nghiêm khắc và hùng hổ; nhưng khi có mặt th́ nhu nhược, nói chẳng ra hồn.”11 Xin họ biết cho rằng: khi vắng mặt, chúng tôi viết thư làm sao, th́ khi có mặt, chúng tôi cũng hành động như vậy.

Ông Phao-lô trả lời những kẻ trách ông đầy tham vọng

12 Thật ra, chúng tôi đâu dám cho ḿnh ngang hàng hay so sánh ḿnh với những kẻ tự cao tự đại kia. Nhưng khi họ lấy ḿnh làm tiêu chuẩn để tự đánh giá và so sánh, th́ họ không được khôn.13 Về phần chúng tôi, chúng tôi sẽ không tự hào quá giới hạn. Trái lại, niềm tự hào của chúng tôi giới hạn trong phạm vi Thiên Chúa đă quy định cho chúng tôi, khi đưa chúng tôi đến với anh em.14 V́ anh em ở trong phạm vi đó, nên chúng tôi không vượt quá giới hạn khi đến với anh em. Thật thế, chúng tôi đă đến với anh em trước, mang theo Tin Mừng của Đức Ki-tô,15 chứ không cướp công của người khác mà tự hào quá giới hạn. Nhưng chúng tôi hy vọng rằng: một khi đức tin của anh em lớn mạnh, công việc của chúng tôi ngày càng phát triển nơi anh em trong phạm vi đă quy định cho chúng tôi,16 th́ chúng tôi có thể đem Tin Mừng xa hơn nữa, mà không tự hào về những thành tựu thuộc phạm vi người khác.17 Nhưng ai tự hào th́ hăy tự hào trong Chúa!18 Người được chấp nhận không phải là kẻ tự cao tự đại, nhưng là người được Chúa đề cao.

Ông Phao-lô bắt buộc phải tự khen ḿnh

Chương 11

11.  1 Phải chi anh em chịu đựng được một chút điên rồ của tôi! Mà hẳn anh em chịu đựng được tôi.2 Thật thế, v́ anh em, tôi ghen cái ghen của Thiên Chúa, bởi tôi đă đính hôn anh em với một người độc nhất là Đức Ki-tô, để tiến dâng anh em cho Người như một trinh nữ thanh khiết.3 Nhưng tôi sợ rằng như xưa con rắn đă dùng mưu chước mà lừa dối bà E-và thế nào, th́ nay trí ḷng anh em cũng dần dần đâm ra hư hỏng, mất sự đơn sơ đối với Đức Ki-tô như vậy.4 Quả thật, nếu có ai đến rao giảng một Đức Giê-su khác với Đức Giê-su mà chúng tôi rao giảng, hay nếu anh em lănh nhận một Thần Khí nào khác với Thần Khí anh em đă lănh nhận, hoặc nếu anh em lănh nhận một Tin Mừng nào khác với Tin Mừng anh em đă đón nhận, th́ anh em sẵn ḷng chịu đựng được ngay.5 Tôi nghĩ rằng tôi chẳng có thua ǵ các Tông Đồ siêu đẳng kia.6 Giả như tôi có thua kém về khoa ăn nói, th́ về sự hiểu biết, tôi chẳng thua kém đâu! Trong mọi dịp và trước mặt mọi người, chúng tôi đă tỏ cho anh em thấy điều đó rồi.

7 Phải chăng tôi có lỗi, v́ đă hạ ḿnh xuống để tôn anh em lên, khi rao giảng không công cho anh em Tin Mừng của Thiên Chúa?8 Tôi đă bóc lột các Hội Thánh khác, ăn lương của họ, để phục vụ anh em.9 Hồi ở giữa anh em, những khi lâm cảnh túng thiếu, tôi đă chẳng phiền luỵ ai, bởi v́ các anh em từ Ma-kê-đô-ni-a đến đă cung cấp đầy đủ những ǵ tôi cần. Trong mọi dịp, tôi đă tránh không trở nên gánh nặng cho anh em, và tôi cũng sẽ c̣n tránh như vậy.10 Nhân danh chân lư của Đức Ki-tô ở trong tôi, tôi xin nói với anh em rằng: chẳng ai cấm được tôi có niềm vinh dự đó trong các miền xứ A-khai-a.11 Tại sao thế? Có phải v́ tôi không yêu mến anh em chăng? Có Thiên Chúa biết!

12 Điều tôi làm, tôi sẽ tiếp tục làm, để những kẻ muốn có cơ hội tự phụ là những người ngang hàng với chúng tôi, không c̣n cơ hội đó nữa.13 V́ những kẻ đó là tông đồ giả, là thợ gian xảo, đội lốt tông đồ của Đức Ki-tô.14 Lạ ǵ đâu! V́ chính Xa-tan cũng đội lốt thiên thần sáng láng!15 Vậy có ǵ là khác thường khi kẻ phục vụ nó đội lốt người phục vụ sự công chính. Chung cục, chúng sẽ lănh nhận hậu quả công việc chúng đă làm.16 Tôi xin nói lại: đừng ai tưởng là tôi điên. Mà có ai tưởng như thế, th́ cứ nhận tôi là điên, để tôi cũng được tự hào đôi chút.17 Điều tôi đang nói, tôi không nói theo tinh thần của Chúa, nhưng nói như một người điên, bởi tin chắc rằng ḿnh có lư để tự hào.18 V́ có lắm kẻ tự hào theo tính xác thịt, th́ tôi đây, tôi cũng tự hào.19 Vốn là người khôn, anh em lại sẵn ḷng chịu đựng kẻ điên!20 Phải rồi, anh em đành chịu người ta áp chế, cấu xé, tước đoạt, đối xử ngạo ngược và tát vào mặt!21 Tôi nói thế, thật là nhục nhă, như thể chúng tôi đă tỏ ra nhu nhược. ..

22 Họ là người Híp-ri ư? Tôi cũng vậy! Họ là người Ít-ra-en ư? Tôi cũng vậy! Họ là ḍng giống Áp-ra-ham ư? Tôi cũng vậy!23 Họ là người phục vụ Đức Ki-tô ư? Tôi nói như người điên: tôi c̣n hơn họ nữa! Hơn nhiều v́ công khó, hơn nhiều v́ ở tù, hơn gấp bội v́ chịu đ̣n, bao lần suưt chết.24 Năm lần tôi bị người Do-thái đánh bốn mươi roi bớt một;25 ba lần bị đánh đ̣n; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi!26 Tôi c̣n hơn họ, v́ phải thực hiện nhiều cuộc hành tŕnh, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm v́ dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em.27 Tôi c̣n phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng.28 Không kể các điều khác, c̣n có nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh!29 Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy ḿnh yếu đuối? Có ai vấp ngă mà tôi lại không cảm thấy ḷng sôi lên?

30 Nếu phải tự hào, th́ tôi sẽ tự hào về những yếu đuối của tôi.31 Thiên Chúa, Đấng đáng chúc tụng muôn đời, là Cha của Chúa Giê-su, biết rằng tôi không nói dối.32 Tại Đa-mát, tổng đốc của vua A-rê-ta đă cho lính canh gác thành để bắt tôi.33 Nhưng người ta đă cho tôi vào một cái thúng, rồi tḥng qua cửa sổ dọc theo tường thành. Thế là tôi thoát khỏi tay ông ta.

Chương 12

12.  1 Phải tự hào ư? Nào có ích ǵ! Dù thế, tôi cũng xin nói về những thị kiến và mặc khải Chúa đă ban cho tôi.2 Tôi biết có một người môn đệ Đức Ki-tô, trước đây mười bốn năm đă được nhắc lên tới tầng trời thứ ba -có ở trong thân xác hay không, tôi không biết, có ở ngoài thân xác hay không, tôi cũng không biết, chỉ có Thiên Chúa biết.3 Tôi biết rằng người ấy đă được nhắc lên tận thiên đàng -trong thân xác hay ngoài thân xác, tôi không biết, chỉ có Thiên Chúa biết-,4 và người ấy đă được nghe những lời khôn tả mà loài người không được phép nói lại.5 Về một người như thế, tôi sẽ tự hào; c̣n về bản thân tôi, tôi chỉ tự hào về những yếu đuối của tôi.6 Quả vậy, nếu muốn tự hào, th́ tôi cũng không phải là người điên, v́ tôi nói sự thật. Nhưng tôi không làm thế, kẻo người ta đánh giá tôi quá cao, so với điều họ thấy nơi tôi hoặc nghe tôi nói.

7 Và để tôi khỏi tự cao tự đại v́ những mặc khải phi thường tôi đă nhận được, thân xác tôi như đă bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Xa-tan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại.8 Đă ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này.9 Nhưng Người quả quyết với tôi: “Ơn của Thầy đă đủ cho anh, v́ sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào v́ những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Ki-tô ở măi trong tôi.10 V́ vậy, tôi cảm thấy vui sướng khi ḿnh yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo v́ Đức Ki-tô. V́ khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh.

11 Tôi điên rồi! Chính anh em đă khiến tôi hoá ra như thế. Đáng lẽ anh em phải khen tôi, v́ mặc dầu tôi chẳng là ǵ, tôi đâu có thua kém các Tông Đồ siêu đẳng kia.12 Anh em đă thấy thực hiện nơi anh em những dấu chỉ của sứ vụ Tông Đồ: nào là đức kiên nhẫn hoàn hảo, nào là những dấu lạ điềm thiêng, nào là các phép lạ.13 Anh em có thua ǵ các Hội Thánh khác? Có chăng, chỉ thua ở chỗ bản thân tôi đă không phiền luỵ anh em! Xin anh em tha cho tôi sự bất công đó.14 Đây tôi sẵn sàng đến thăm anh em lần thứ ba. Tôi cũng sẽ không phiền luỵ anh em đâu, bởi v́ điều tôi t́m kiếm không phải là của cải của anh em, mà là chính anh em. Thật vậy, không phải con cái có nhiệm vụ thu tích của cải cho cha mẹ, mà là cha mẹ phải thu tích của cải cho con cái.15 Phần tôi, tôi rất vui ḷng tiêu phí tiền của, và tiêu phí cả sức lực lẫn con người của tôi v́ linh hồn anh em. Phải chăng v́ yêu mến anh em nhiều hơn mà tôi được yêu mến ít hơn?

16 Thế cũng được! Tôi đă không trở nên gánh nặng cho anh em; nhưng vốn là người xảo quyệt, tôi đă dùng mưu mà lừa gạt anh em.17 Phải chăng trong số những kẻ tôi sai đến, tôi đă dùng người nào đó để bóc lột anh em?18 Tôi đă xin anh Ti-tô đi, và đă cử người anh em kia cùng đi với anh. Phải chăng anh Ti-tô đă bóc lột anh em? Chúng tôi đă không sống theo cùng một tinh thần, cùng một đường lối sao?

Nỗi lo âu của ông Phao-lô

19 Đă từ lâu, anh em tưởng rằng chúng tôi tự biện hộ trước mặt anh em. Thật ra tôi nói là nói trước mặt Thiên Chúa, trong Đức Ki-tô. Và thưa anh em thân mến, chúng tôi nói tất cả những điều ấy cốt để xây dựng anh em.20 Quả vậy, tôi sợ rằng khi đến, tôi không thấy anh em được như ư tôi, và anh em thấy tôi không được như ư anh em. Chớ ǵ giữa anh em đừng có chia rẽ, ghen tương, oán ghét, cạnh tranh, vu khống, nói hành, kiêu căng, hỗn loạn.21 Tôi sợ rằng lần sau đến thăm anh em, Thiên Chúa của tôi lại để tôi phải nhục v́ anh em, và tôi phải than khóc nhiều người trước đây đă phạm tội, mà nay chẳng chịu ăn năn hối cải về những việc ô uế, gian dâm và phóng đăng họ đă làm.

Chương 13

13.  1 Đây sẽ là lần thứ ba tôi đến thăm anh em. Mọi công việc phải được giải quyết nhờ có ba mặt một lời.2 Tôi đă nói với những kẻ trước đây đă phạm tội và mọi người khác, và hôm nay khi vắng mặt, tôi cũng xin nói lại như đă nói khi có mặt lần thứ hai, là: nếu đến lần nữa, tôi sẽ không nương tay,3 bởi v́ anh em muốn có một bằng chứng cho thấy Đức Ki-tô nói trong tôi. Người không nhu nhược đối với anh em đâu, nhưng Người đầy uy quyền giữa anh em.4 Thật vậy, Người đă chịu đóng đinh v́ mang thân phận yếu hèn, nhưng nay Người đang sống nhờ quyền năng của Thiên Chúa. Cả chúng tôi nữa, trong Đức Ki-tô, chúng tôi cũng mang thân phận yếu hèn, nhưng cùng với Người, chúng tôi sống nhờ quyền năng của Thiên Chúa để xử sự với anh em.

5 Anh em hăy tự xét xem ḿnh có c̣n sống trong đức tin hay không. Hăy tự kiểm điểm. Anh em chẳng nhận thấy là có Đức Giê-su Ki-tô ở trong anh em sao? Trừ phi anh em đă thua trong cuộc kiểm điểm này.6 Tôi hy vọng rằng anh em sẽ nhận thấy là chúng tôi đây không bị thua.7 Chúng tôi cầu xin Thiên Chúa cho anh em đừng làm điều ǵ trái, không phải để tỏ ra chúng tôi thắng, nhưng để anh em làm điều thiện, cho dù chúng tôi như bị thua.8 V́ chúng tôi không thể làm ǵ chống lại sự thật, nhưng chúng tôi chỉ có thể hoạt động cho sự thật.9 Quả thế, chúng tôi vui mừng khi chúng tôi yếu mà anh em lại mạnh. Điều chúng tôi cầu xin là anh em được nên hoàn thiện.10 V́ vậy, khi vắng mặt, tôi viết các điều này, để lúc có mặt, tôi khỏi phải xử nghiêm khắc, theo quyền hành Chúa đă ban cho tôi để xây dựng, chứ không phải để phá đổ.

KẾT LUẬN

Những lời dặn ḍ, thăm hỏi và lời cầu chúc cuối cùng

11 Ngoài ra, thưa anh em, anh em hăy vui mừng và gắng nên hoàn thiện. Hăy khuyến khích nhau, hăy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hoà. Như vậy, Thiên Chúa là nguồn yêu thương và b́nh an, sẽ ở cùng anh em.
12 Anh em hăy hôn chào nhau cách thánh thiện. Mọi người thuộc dân thánh ở đây gửi lời chào anh em.
13 Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, đầy t́nh thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần. A-men.