Một hiện tượng lịch sử


Ở đây cần ghi nhận một biến cố, một hiện tượng quan trọng trong lịch sử nhân loại hiện đại. Đồng thời người ta cần tự hỏi: Phải chăng đây chỉ là một sự kiện lịch sử thuần tuư nhân loại chứ không do sức mạnh siêu nhiên từ Trời Cao can thiệp? Phải chăng đây không phải là một phép lạ Fatima?

Khi vào năm 1989/90, bảy mươi hai năm sau lời Mẹ Maria tiên báo ở Fatima: "Nước Nga sẽ ăn năn trở lại và trái tim Mẹ sẽ thắng" đă hoàn toàn ứng nghiệm. Toàn khối Liên Sô, trong đó có nước Nga, đă trở lại. Đảng cộng sản vô thần quá khích, chủ trương tiêu diệt tôn giáo bằng các cuộc đàn áp đẫm máu ở Nga và các nước thuộc Liên Sô cũng như ở các nước Đông Âu đă hoàn toàn cáo chung, đă tự đào thải trước cao trào tự do dân chủ tiến bộ của nhân loại ngày nay, trả lại cho các dân tộc liên hệ những quyền tự do con người, đặc biệt các quyền tự do thuộc lănh vực tinh thần, như tự do tư tưởng, tự do lương tâm, tự do tôn giáo.

Hiện nay trên thế giới, tuy c̣n 4 nước duy nhất vẫn áp dụng đường lối chính trị của đảng cộng sản, đó là Trung Hoa Lục Địa, Việt Nam, Cuba và Bắc Hàn. Nhưng ngoài Bắc Hàn ra, ba nước c̣n lại đă bắt đầu canh tân đổi mới, loại bỏ từ từ các h́nh thức cai trị quá khích và lạc hậu buổi sơ khai.

Đặc biệt nhất là trường hợp Việt Nam, Nhà Nước cộng sản chẳng những bắt đầu đổi mới đường lối chính trị trong nước mà c̣n mở cửa giao lưu với tất cả các nước tự do dân chủ trên khắp thế giới, hội nhập vào đời sống văn minh tiến bộ của toàn thể nhân loại. Từ đầu năm 1986 tới nay Nhà Nước đă từ từ loại bỏ chính sách "kinh tế bao cấp" hay "kinh tế kế hoạch" khắt khe bảo thủ, do Nhà Nước qui định và áp dụng chính sách "kinh tế thị trường" tự do, theo đúng phương thức "dân giàu nước mạnh". Mọi người công dân tương đối được hưởng các quyền tự do cơ bản, nhất là được tự do lựa chọn và sống theo một tôn giáo thích hợp, đúng với lương tâm của ḿnh. Chính trong bộ dân luật của Nhà Nước XHCN Việt Nam công bố năm 1992, khoản 70 đă ghi là mỗi người công dân đều được tự do tin theo một tôn giáo. "V́ tôn giáo chính là nhu cầu tinh thần đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc", như đă được ghi rơ trong nghị quyết của hội nghị lần VII của Ban Chấp Hành Trung Ương đảng Cộng Sản Việt Nam, khóa IX; hay, v́ "tôn giáo là một yếu tố cơ bản của đời sống con người", như cựu tổng thư kư đảng cộng sản Liên Sô Michail Gorbatschow đă từng nhận định. Giáo Hội Công Giáo luôn khẳng định quan điểm xă hội chân chính của ḿnh là một Nhà Nước văn minh dân chủ tự do không được phép lấy tôn giáo làm quan điểm chính trị, hay nói đúng hơn, không được phép lấy một tôn giáo làm quốc giáo và ép buộc mọi người dân phải chấp nhận tôn giáo đó, hay ngược lại, không được phép chủ trương vô thần, đàn áp tôn giáo, kỳ thị và chia rẽ lương - giáo giữa cộng đồng dân tộc ḿnh. Một Nhà Nước tân tiến phải có đường lối trung lập trong vấn đề tín ngưỡng, tôn trọng và tạo điều kiện cho mọi người dân có thể sống và thực hành ḷng tín ngưỡng của họ. Vào ngày 25.01.1998, trong bài giảng tại thánh lễ ở thủ đô Havanna, nước Cuba cộng sản, trước sự hiện diện của chủ tịch nước Fidel Castro và của hàng trăm ngàn người tham dự, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă thẳng thắn tuyên bố: "Một Nhà Nước hiện đại không được phép lấy chủ thuyết vô thần hay tôn giáo để làm quan điểm chính trị. Nhà Nước cần tránh các chủ nghĩa quá khích và tục hóa cực đoan, đồng thời cổ vơ một bầu không khí hài ḥa trong xă hội và một luật pháp hợp lư, hầu cho mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng tôn giáo có thể tự do sống đạo và hành đạo cách công khai." (2). Bởi v́ "sự hạn chế quyền tự do tôn giáo của các cá nhân cũng như của các cộng đồng chắc hẳn không chỉ là một kinh nghiệm đau thương, nhưng c̣n chạm đến nhân phẩm con người nói chung, độc lập với tôn giáo. Sự hạn chế quyền tự do tôn giáo và sự xúc phạm đến quyền tự do tôn giáo là đi ngược lại phẩm giá và các quyền lợi khách quan của con người" (3).

Thật vậy, tâm thức tín ngưỡng hay sự thâm tín tôn giáo của con người không những là "yếu tố cơ bản" đă ăn rễ sâu vào tâm khảm con người, hướng dẫn lương tri và cả cuộc sống con người, nhưng c̣n là chính đời sống tinh thần con người, như ḍng huyết quản lưu chảy và nuôi sống cơ thể con người vậy. Niềm tin tôn giáo có tính cách nội tại chứ không mang tính cách ngoại tại như một ư thức hệ, một quan điểm triết học, xă hội hay chính trị. Trong đức tin Kitô giáo, câu hỏi được đặt ra không c̣n phải là 'hữu' hay 'vô hữu' như trong lănh vực triết học, xă hội, chính trị hay văn hóa, nhưng là chấp nhận và t́m hiểu cái 'hữu' khách quan, nằm ngoài tầm kiểm soát của trí năng con người. Nói cách khác, mục đích hay đối tượng của thần học Kitô Giáo không phải là luận bàn về có hay không có Thiên Chúa, nhưng là t́m hiểu các chân lư minh nhiên về Thiên Chúa, để sự xác tín về sự hiện hữu của Người thêm vững mạnh hơn. V́ không một ai có thể phủ nhận được sự hiện hữu của Thiên Chúa Tạo Hóa, Đấng Toàn Năng tuyệt đối, nếu không muốn đi ngược lại lương tri và trí năng của ḿnh. Một người có trí năng lành mạnh và khách quan, bao giờ cũng nhận ra được sự hiện hữu của Thiên Chúa, mặc dù mọi phạm trù luận lư của nhân loại hoàn toàn bất lực không thể giải thích trọn vẹn được bản thể của Người.

Bởi vậy, con người có thể làm áp lực để thay đổi được một nhân sinh quan, một hệ thống chính trị hay một ư thức hệ, nhưng không bao giờ có thể loại bỏ được niềm tin vào Thiên Chúa nơi ḷng người. Người ta có thể ngạo mạn phủ nhận hay chối từ Thiên Chúa, nhưng người ta không thể khai tử hay loại bỏ được sự hiện hữu của Thiên Chúa, không thể xóa bỏ được niềm tin của ḷng người vào Thiên Chúa. Máu của 130,000 Kitô hữu đă nhuộm đỏ ba miền đất nước Việt Nam trong bao thế kỷ qua là một minh chứng hùng hồn cho sự khẳng định đó. Những Kitô hữu can trường đó thà chết chứ không thể chối bỏ một sự thật khách quan hiển nhiên: Sự hiện hữu và t́nh yêu vô biên của Thiên Chúa, Đấng đă dựng nên con người và vũ trụ muôn vật. Do đó, Kinh Thánh đă khẳng định: "Phúc cho dân tộc nào có Thiên Chúa làm Chúa ḿnh và phúc cho quốc gia nào được Người chọn làm gia nghiệp" (Tv 33,12). Họ có được Giáo Lư của Người soi sáng hướng dẫn hầu trước hết là biết "úy Thiên mệnh", biết kính sợ Thượng Ư của Chúa và tiếp đến là biết tôn trọng nhân vị và phẩm giá của đồng loại với tất cả các quyền tự do căn bản của họ, v́ mỗi người đă được dựng nên giống Thiên Chúa và mang trong ḿnh h́nh ảnh của Người (x. St 1,26-27), và là con Thiên Chúa (x. Mt 5,45; Lc 11,2-4; Ga 20,17b). Ngược lại, khốn thay cho dân tộc nào chối bỏ Thiên Chúa, bắt bớ và sát hại các tín hữu của Người! Họ là những kẻ sống trong đêm tối của vô tri, không có ánh sáng của lương tri ngay chính phát xuất từ Thiên Chúa dẫn đường chỉ lối. V́ thế họ đă xúc phạm đến Đấng Toàn Năng và chà đạp các quyền tự do cơ bản và chính đáng nhất của đồng loại. Và hậu quả đương nhiên là họ sẽ không thể thoát khỏi án phạt nghiêm minh của Thiên Chúa. Lời công bố long trọng của Đức Kitô, Quan Án chí công, không chỉ có giá trị cho từng người mà c̣n cho từng xă hội và cho từng dân tộc: "Ai tin vào Phúc Âm và chịu Phép Rửa, sẽ được cứu rỗi. C̣n ai không tin, th́ sẽ bị luận phạt" (Mc 16,16).

Bởi v́ con người không chỉ được sinh ra, lớn lên, rồi chết là hết như các tạo vật khác, nhưng sau khi từ giă cơi đời này để bước vào cuộc sống vĩnh hằng, tất cả mọi người không phân biệt giai cấp thứ bậc, không phân biệt tín ngưỡng, có tin ngưỡng hay vô tín ngưỡng, đếu phải ra đứng trước ṭa Thiên Chúa để trả lẽ về cuộc sống trần thế đă qua của ḿnh, về các phúc tội đă làm đối với nhân loại (x. Mt 25,31 - 46), hầu để được trọng thưởng hay bị luận phạt muôn kiếp, v́ trước mặt Thượng Đế mọi người đều b́nh đẳng, đúng như lời đức Khổng Tử dạy: "Hoàng Thiên vô thân, duy đức thị thụ: Thượng Đế không thân riêng ai, chỉ kẻ có đức là Trời giúp", hay: "Duy Thiên vô thân, khắc kính duy thân: Trời không thân riêng ai, chỉ thân với người hay kính" (Kinh Thư). V́ thế, "tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhất thi giai dĩ tu thân vi bản: từ Vua cho đến người dân, ai ai cũng phải lấy sự sửa ḿnh làm gốc" (Đại Học). Nhất là sự minh xét của Thiên Chúa không hề bị ảnh hưởng bởi sự đồng t́nh hay phản đối của người đời. Những ǵ người đời đề cao có thể trước mặt Thiên Chúa lại không có giá trị, trái lại những ǵ con người kết án lại có thể là điều công chính trước mặt Thiên Chúa. Bởi lẽ "con người chỉ đoán xét theo những điều họ thấy trước mắt, c̣n Thiên Chúa lại thấu suốt ḷng dạ con người" (1Sam 16,7b) v́ "ḷng mỗi người, chính Chúa dựng nên và những việc họ làm Người đều thông suốt cả" (Tv 33,15). Con người chỉ có thể lừa gạt được đồng loại, c̣n trước mặt Thiên Chúa mọi hành vi và tư tưởng tốt xấu của mỗi người đều được vạch trần và được phân xét một cách công minh.

Đàng khác, nếu con người có tâm thức tín ngưỡng và tin theo một tôn giáo để biết "ăn ngay ở lành", xét theo phương diện tinh thần và luân lư là một điều tốt, nhưng chưa đủ. Con người c̣n phải biết t́m hiểu và tin đúng "Chánh Đạo" nữa. Nói cách khác, con người không chỉ lo sống đức hạnh, lo ăn ngay ở lành, nhưng trước hết c̣n phải biết tôn thờ và cảm tạ Thiên Chúa, Đấng Tối Cao duy nhất đă dựng nên ḿnh và cả vũ trụ cùng với muôn vật, hữu h́nh và vô h́nh. Hầu tránh được cảnh tượng thương tâm như người ta thường nói là "mồ cha không khóc, đi khóc tổ mối", Đấng Tạo Hóa, Chúa Tể càn khôn th́ không tôn thờ, nhưng lại chạy theo cúng bái thờ lạy các thần nhân là các tạo vật do chính bàn tay Chúa dựng nên. Trong khi đó, Đạo Công Giáo, một tôn giáo đă được chính Đức Kitô, Thiên Chúa Nhập Thể, sáng lập dựa trên nền tảng Phúc Âm T́nh Thương của Người, dạy cho con người biết "sự thiên và ái nhân", biết thờ kính Thiên Chúa và yêu mến tha nhân như chính ḿnh. Hơn thế nữa, Đạo Công Giáo không những dạy cho con người nhận biết và tôn thờ Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa toàn năng, và là nguồn mọi chân thiện mỹ tuyệt đối, nhưng c̣n chỉ cho con người biết Người là Cha Chung Nhân Từ của toàn thể nhân loại và tất cả mọi người là anh em với nhau, không phân biệt màu da, chủng tộc, tín ngưỡng, vô thần hay hữu thần. V́ thế, một người công giáo thâm tín đích thực luôn dành chổ đứng cho hết mọi người trong thẩm cung t́nh yêu của ḿnh, chứ không hề coi bất cứ ai là kẻ thù "bất cộng đái thiên" hoặc loại trừ bất cứ ai. Vâng, Thiên Chúa là t́nh yêu nên các con cái Chúa cũng phải sống trong t́nh yêu và đem san sẻ t́nh yêu đó cho hết mọi anh em đồng loại của ḿnh. "Các con hăy thương yêu nhau như Thầy đă yêu thương các con" (Ga 15,12), lời nhắn nhủ đầy tâm huyết của ức Kitô vẫn luôn ghi đậm măi trong tâm thức của mỗi kitô hữu.

Nói tóm lại, qua Sứ điệp của Đức Maria và các phép lạ Fatima, Thiên Chúa muốn nói cho nhân loại biết rằng Người vẫn luôn hiện diện và đồng hành với họ, nhất là Người hằng yêu thương họ và muốn chỉ cho họ con đường dẫn tới sự sống chân thật.