Bí Mật Fatima thứ ba do chính chị Lucia viết ra

ngày 3 tháng 1 năm 1944


Trước hết chúng ta hăy đọc nguyên văn bản dịch về Bí Mật Fatima thứ ba, do chính chị Lucia viết ra, ngày 3 tháng 1 năm 1944, như sau:

Con viết ra trong sự vâng lời Ngài, lạy Thiên Chúa của con, Ngài ra lệnh cho con làm việc nầy qua Đức Giám Mục của giáo phận Leiria, và qua Đức Maria, Mẹ Chúa và là Mẹ của con. 

 Sau hai phần (bí mật Fatima I và II ) mà con đă nói ra, chúng con đă nh́n thấy phía bên trái của Đức Mẹ, và hơi cao hơn một chút, một Thiên Thần cầm một gươm lửa nơi tay trái; gươm nầy chớp sáng và chiếu ra những tia lửa dường như thể muốn đốt rụi thế giới; nhưng những tia lửa nầy bị tắt đi, khi gặp phải ánh sáng phát ra từ tay phải của Đức Mẹ chỉ về phía Thiên Thần; Tay mặt của vị Thiên Thần chỉ vào trái đất, và vị Thiên Thần nói lớn: Đền tội, Đền tội, Đền tội! Và chúng con đă nh́n thấy trong một ánh sáng bao la là Thiên Chúa: "một cái ǵ giống như thể người ta xuất hiện trong tấm gương khi họ đi ngang qua nóù" một vị Giám Mục mặc Áo trắng, "chúng con có cảm giác như thể đó chính là Đức Thánh Cha". Nhiều vị giám mục khác nữa, những Linh Mục, những tu sĩ nam nữ, đang leo lên một núi dốc cao, trên chóp núi nầy có một cây Thập Giá lớn có thân sần sù, giống như thể bằng cây sồi có vơ cứng; trước khi lên đến nơi, Đức Thánh Cha đi ngang qua một thành phố lớn phân nửa đă bị tàn phá và phân nửa bị rung động, ĐTC bước đi run rẩy, chịu đau đớn và sầu muộn, Ngài cầu nguyện cho những linh hồn của các người chết mà ngài gặp trên đường; khi lên đến chóp núi, quỳ gối phủ phục dưới chân Thập Giá lớn, ngài bị giết bởi một toán lính cầm súng bắn vào ngài và phóng các mủi tên vào ngài; và cũng bằng cách thức như vậy, hết người nầy đến người khác, các Giám Mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và nhiều giáo dân thuộc hàng ngủ và địa vị khác nhau, cũng lần lượt bị giết chết nơi đó. Bên dưới hai cánh của Thập Giá, có hai Thiên Thần, mỗi vị cầm nơi tay một b́nh thủy tinh, trong đó các vị hứng máu của những người tử đạo, và dùng máu nầy rảy lên các linh hồn đang tiến lên gần Thiên Chúa.

      Đó là nguyên văn của phần thứ ba của Bí Mật Fatima, (Bí Mật Fatima thứ ba), được Bộ Giáo Lư Đức Tin công bố trong Tập Tài Liệu có tựa đề là "Sứ Điệp Fatima", dày khoảng 40 trang, được giới thiệu cho báo chí trưa thứ Hai 26 tháng 6/2000. Tập Tài liệu nầy được phổ biến bằng bảy thứ tiếng.

       Nội dung của Tập Tài Liệu nầy gồm có những bài như sau:

1. Lời Nhập Đề của Đức TGM Tarcisio Bertone, Tổng thư kư của Bộ Giáo Lư Đức Tin.

2. Bản văn ghi lại Bí Mật Fatima thứ nhất và thứ hai, (phần I và II của Bí Mật Fatima), như được chị Lucia viết trong "Tập Kư Ức Thứ Ba", ngày 31 tháng 8 năm 1941, cho Đức Giám Mục giáo phận Leiria-Fatima.

3. Bản Văn Bí Mật Fatima thứ ba (phần thứ III của Bí mật Fatima).

4. Bức Thơ của ĐTC Gioan Phaolô II gởi cho chị Lucia, ngày 19 tháng 4 năm 2000, trong đó ĐTC nói là ngài sai ĐTGM Bertone đến gặp chỉ để hỏi thêm về những điều có liên hệ đến việc giải thích "Bí Mật Fatima thứ ba".

5. Bản Văn ghi lại cuộc trao đổi giữa Đức TGM Bertone và chị Lucia, ngày thứ Năm 27 tháng 4 năm 2000, tại tu viện Camêlo ở COIMBRA, với sự hiện diện của Đức Giám Mục giáo phận Leiria Fatima.

6. Lời công bố của ĐHY Sodano, về Bí Mật Fatima thứ ba, vào cuối Thánh lễ Phong Chân Phước cho Phanxicô và Giaxinta, tại Fatima ngày 13 tháng 5 năm 2000.

7. Bài Chú Giải Thần Học của ĐHY Ratzinger, Tổng Trưởng Bộ Giáo Lư Đức Tin, để giúp hiểu Bí Mật thứ ba.

Vài điểm căn bản đă được nêu ra trong buổi Họp Báo

Trưa Thứ Hai ngày 26 tháng 6/2000 về bí mật Fatima thứ ba

Bản văn "Phần III của Bí Mật Fatima" (Bí Mật Fatima thứ ba), đă được chị Lucia viết ra, bằng tiếng Bồ Đào Nha. Chị là một trong ba trẻ mục đồng đă được thấy Đức Mẹ hiện ra tại Fatima, hiện c̣n sống trong tu viện Camêlô ở COIMBRA, bên Bồ Đào Nha. Nội dung của phần III nầy, cũng như của phần I và II, của Bí mật Fatima, đă được Đức Mẹ cho cả ba trẻ "Lucia, Phanxicô và Giaxinta" nh́n thấy, trong lần hiện ra ngày 13 tháng 7 năm 1917.

 Phần I và II của Bí Mật Fatima đă được chị Lucia viết ra ngày 31 tháng 8 năm 1941. Và phần III của Bí mật Fatima, được chị viết ra ngày 3 tháng Giêng năm 1944 

 Trong phần nhập đề của Tập Tài liệu công bố Bí Mật Fatima, ĐTGM Bertone cho biết là "Bí Mật Fatima thứ ba nầy" đă được Đức Giám Mục Giáo Phận LEIRIA-FATIMA cất giữ trong ṿng 13 năm, trước khi được gởi đến Vatican ngày 4 tháng 4 năm 1957.

 Đức Cố Giáo Hoàng Gioan 23 đă đọc Bí Mật Thứ Ba nầy ngày 17 tháng 8 năm 1959; và Đức Cố Giáo Hoàng Phaolô VI cũng đă đọc qua Bí Mật nầy ngày 27 tháng 3 năm 1965; nhưng cả hai vị Giáo Hoàng nầy đă quyết định không công bố. Đức Gioan Phaolô II quan tâm đến Bí Mật thứ III nầy sau khi ngài bị mưu sát ngày 13 tháng 5 năm 1981. Ngày 13 tháng 7 năm 1981, Vị Tổng Trưởng bộ Giáo Lư Đức Tin lúc đó là ĐHY Franjo Seper, đă trao cho ĐTC Gioan Phaolô II, hai bao thơ, một có đựng nguyên bản văn Bí Mật Fatima III do chị Lucia viết ra, và một chứa bản dịch Bí Mật thứ III sang tiếng Ư.

 Ngày 12 tháng 5 năm 1982, chị Lucia đă đích thân viết thơ cho ĐTC Gioan Phaolô II -- bức thơ nầy đến nay chưa được công bố, nhưng giờ đây được công bố trong tập tài liệu nầy - trong đó chị nói đến những ǵ có thể giúp cho việc giải thích Bí Mật Fatima thứ ba.

 Điểm đặc biệt chúng ta có thể lưu ư trong Tập Tài Liệu công bố Bí mật Fatima, là cả ba bản văn ghi lại ba phần của Bí mật Fatima, ngoài h́nh thức in chữ, c̣n được in trong thể thức "chụp h́nh nguyên bản viết tay của Chị Lucia". Như thế, chúng ta có ba bản in chụp h́nh ba nguyên bản viết tay của chị Lucia: bản viết tay thứ nhất vào năm 1941, ghi lại phần I và II của Bí Mật Fatima; bản viết tay thứ hai vào năm 1944, ghi lại phần III của Bí mật Fatima; và bản viết tay thứ ba là bức thơ của chị Lucia gởi cho ĐỨC Gioan Phaolô II, ngày 12 tháng 5 năm 1982.

 Trong lần trao đổi với chị Lucia hôm 27 tháng 4/2000, Đức TGM Bertone, đă hỏi chị Lucia tại sao chị ghi bên ngoài b́ thư lưu giữ Bí Mật Thứ III, được viết ra năm 1944, rằng bí mật thứ III nầy chỉ có thể được mở ra sau năm 1960 mà thôi, th́ chị Lucia đă trả lời như sau: "Chính tôi đă đề ra thời điểm năm 1960; bởi v́, theo trực giác của tôi, trước thời điểm năm 1960, người ta có lẽ không hiểu được bí mật nầy; người ta có lẽ hiểu được chỉ sau năm 1960. Bây giờ người ta có thể hiểu rơ hơn. Tôi đă viết ra điều tôi đă thấy; việc giải thích bí mật nầy không phải là việc của tôi, nhưng là việc của Đức Thánh Cha".

 Trong cuộc họp báo trưa thứ Hai 26 tháng 6/2000, ĐHY Ratzinger đă nhận định rằng: "Bí Mật Fatima thứ ba" là "tổng hợp thật sâu xa của một lịch sử câu chuyện đi xa hơn cuộc mưu sát ngày 13 tháng 5 năm 1981". Theo giải thích của ĐHY Ratzinger, th́ việc Bí Mật III nhắc đến cái chết của ĐTC, của các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, là một ám chỉ cách chung đến lịch sử cuộc bách hại của những chế độ vô thần chống lại nhân loại và chống lại những người kitô thế kỷ thứ 20. ĐHY cho biết rằng ngài chia sẻ xác tín với ĐTC Gioan Phaolô II rằng cuộc mưu sát ngày 13 tháng 5 năm 1981 là một cao điểm của cuộc bách hại nầy.

 Tuy nhiên, ĐHY lưu ư rằng người ta không nên đọc bí mật Fatima một cách quá "lịch sử". Những biến cố được loan báo trong Bí mật Fatima không phải là như một cuồn phim "ghi lại tương lai", nhưng giải thích khả thể có thể có (potentialité) của lịch sử, vừa đồng thời cũng mở ngỏ cho những điều khác có thể xảy ra. Tự do quyết định và hành động của con người vẫn luôn c̣n đó. V́ thế, không nên hiểu "bí mật Fatima" như một thứ định mệnh mù quáng, dường như thể "mọi việc bị bắt buộc phải xảy ra như vậy", và không c̣n có thể quy trách cho những cá nhân đă tự do gây ra sự việc nữa. Sứ điệp Fatima muốn nhắc đến cách chung những đau khổ của nhân loại, và mang đến một câu trả lời có thể cho những đau khổ đó, vừa gây ư thức rằng "sức mạnh của t́nh yêu c̣n mạnh hơn sức mạnh của sự dữ, và rằng "cái chết không phải là tiếng nói cuối cùng". Sỡ dĩ các Đức Giáo Hoàng Gioan 23 và Phaolô VI đă không muốn công bố Bí mật Thứ Ba của Fatima, là v́ các ngài đă có thái độ thận trọng. Lúc đó đă có những dự đoán, những xách dộng lèo lái... v́ thế cần thận trọng. Rồi với thời gian qua đi, ư nghĩa chung của bí mật được sáng tỏ từ từ. Lễ Phong Chân Phước cho Phanxicô và Giaxinta, và thời điểm kết thúc Thế Kỷ 20 là những dịp thuận tiện để công bố Bí Mật Fatima.

 Cuối cùng, ĐHY Ratzinger đă lưu ư đến vai tṛ quan trọng của Mẹ Maria trong lịch sử cứu rỗi, cũng như trong lịch sử con người. Hai yếu tố cột trụ của lịch sử nhân loại, mà chúng ta không thể bỏ qua được, đó là "hành động của Thiên Chúa và sự đồng trách nhiệm của con người có tự do, một sự tự do có thể gây thảm họa nhưng đồng thời cũng là một sự tự do có thể làm trổ sinh những hoa trái tốt.

 Trong bài "chú giải thần học" được đăng trong Tập Tài Liệu giới thiệu "Sứ Điệp Fatima", ĐHY Ratzinger đă tŕnh bày vài quan niệm nền tảng để hiểu đúng "Bí mật Fatima". ĐHY nhắc đến trước hết sự phân biệt giữa hai loại mạc khải của Thiên Chúa cho con người, mạc khải chung công khai, và mạc khải riêng cho cá nhân.

 Mạc Khải Công Khai được tích chứa trong Kinh Thánh và đă kết thúc. Những ǵ được tích chứa trong Mạc Khải công khai nầy đều bắt buộc ta phải tin. C̣n Mạc khải riêng th́ quy hướng về mạc khải công khai, và là một trợ giúp để hiểu thêm về mạc khải công khai. Tuy mạc khải riêng không có tính cách bắc buộc phải tin như mạc khải công khai, nhưng các tín hữu cũng không nên coi thường nó.

 Quan niệm nền tảng thứ hai được nhắc đến là quan niệm về lời nói tiên tri. "Lời tiên tri" không hẳn là lời nói trước về tương lai, nhưng đúng hơn là lời "giải bày Thánh Ư của Thiên Chúa cho hiện tại, và như thế nêu chỉ cho ta biết con đường ngay thẳng để tiến đến tương lai". Trong những mạc khải riêng tư, được Giáo Hội nh́n nhận, chẳng hạn như những mạc khải của Bí Mật Fatima, th́ điều được nhắm đến là giúp chúng ta hiểu được những dấu chỉ của thời đại và gặp được câu trả lời đúng cho những dấu chỉ đó, trong đức tin.

 Quan niệm nền tảng thứ ba là về những thị kiến. Những "Thị Kiến" ở đây không phải là những "nh́n thấy b́nh thường ngoại tại của giác quan", cũng không phải là "cái nh́n thuần túy trí thức" (sự lĩnh hội trí thức), nhưng là như một tổng hợp, giữa "nh́n thấy giác quan và lĩnh hội nội tâm". Những thị kiến nầy không phải là như "những bức chụp h́nh" của điều ǵ nằm ở bên kia, cũng không phải là những "biểu lộ của sự tưởng tượng mờ ảo".

 Áp dụng vào trong việc giải thích Bí mật Fatima, ĐHY quả quyết rằng ch́a khóa để hiểu bí mật thứ I và bí mật thứ II là "sự cứu rỗi các linh hồn"; và ch́a khóa của bí mật thứ III là "việc Đền Tội", là "Ăn năn Trở Lại". ĐHY lần lượt lướt qua những h́nh ảnh biểu tượng trong bí mật thứ III như sau:

 "Thiên Thần cầm gươm lửa" nhắc ta nhớ lại những h́nh ảnh tương tự trong sách Khải Huyền. Viễn cảnh về một thế giới có thể bị ch́m đắm trong biển lửa, ngày nay không c̣n là một điều hoàn toàn do trí tưởng tượng bày vẽ nữa. Con người ngày nay đă chuẩn bị cho ḿnh những lưỡi gươm lửa, với những phát minh tối tân".

 "Ánh sáng" chiếu tỏa từ Đức Mẹ, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của tự do con người. Thật vậy, tương lai không phải là cái ǵ tuyệt đối bị định đoạt trước một cách bất biến. H́nh ảnh mà ba trẻ em mục đồng tại Fatima đă nh́n thấy, không phải là một "bộ phim ghi ra tương lai" không c̣n có thể thay đổi được nữa. Ngược lại, thị kiến của ba trẻ là một lời mời gọi "hăy tận dụng những năng lực để thay đổi mọi sự nên tốt đẹp".

 Những h́nh ảnh về "núi có dốc cao", "thành phố bị tàn phá", "các giám mục, linh mục, tu sĩ bị giết chết", đó là những h́nh ảnh nói đến sự bách hại mà Giáo Hội phải chịu trong thế kỷ 20. H́nh ảnh về "Đức Thánh Cha", "vị giám mục mặc áo trắng" được nhắc đến cách nổi bật, và có thể đúng cho nhiều vị giáo hoàng khác nhau, từ Đức Piô X cho đến Đức Gioan Phaolô II hiện nay. Tuy nhiên, biến cố mưu sát ngày 13 tháng 5 năm 1981 đă được Đức Gioan Phaolô II đưa vào gần với những biến cố trong Bí mật thứ III. Nhưng, ĐHY Ratzinger cũng lưu ư rằng sự kiện Đức Gioan Phaolô II đă bị mưu sát mà không chết, trong khi Thị Kiến của bí mật III th́ nói là "chết", (sự kiện nầy) chứng minh một lần nữa rằng "không có định mệnh bất biến không thể thay đổi được".

 Cách chung, Bí Mật Fatima là một lời mời gọi hăy cầu nguyện, hăy "ăn ăn trở lại". Đây là một lời mời gọi luôn luôn c̣n có giá trị, mặc dù những hoàn cảnh mà Bí mật Fatima nhắc đến, "xem ra như đă thuộc về quá khứ". Đối với ĐHY Ratzinger, Bí Mật Fatima nhắc lại câu Chúa Giêsu đă nói, và được ghi lại trong Phúc âm: "Trong thế gian, chúng con sẽ phải điêu đứng. Nhưng chúng con hăy tin tưởng, v́ Ta đă chiến thắng thế gian". Sứ điệp Fatima không nhằm thỏa măn tính ṭ ṃ của con nguời, nhưng mời gọi chúng ta tin tưởng vào lời hứa chiến thắng của Chúa.