THƯ GỬI TÍN HỮU DO THÁI

LỜI TỰA

Chương 1

Địa vị cao trọng của Con Thiên Chúa làm người

1.  1 Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đă phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ;2 nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đă phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đă nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đă đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài.3 Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là h́nh ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. Người là Đấng dùng lời quyền năng của ḿnh mà duy tŕ vạn vật. Sau khi đă tẩy trừ tội lỗi, Người lên ngự bên hữu Đấng Cao Cả trên trời.4 Danh hiệu Người được thừa hưởng, cao cả hơn danh hiệu các thiên thần bao nhiêu, th́ Người lại trổi hơn họ bấy nhiêu.

I. CON THIÊN CHÚA CAO TRỌNG HƠN CÁC THIÊN THẦN

Bằng chứng Kinh Thánh

5 Thật vậy, có bao giờ Thiên Chúa đă phán cùng vị thiên thần nào: Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đă sinh ra Con hoặc là: Ta sẽ là Cha Người, và chính Người sẽ là Con Ta.6 Khi đưa Trưởng Tử vào thế giới loài người, Thiên Chúa lại nói: Mọi thiên thần của Thiên Chúa, phải thờ lạy Người.7 Về các thiên thần, th́ có lời chép: Người làm cho thiên thần của Người nên những luồng gió, và thuộc hạ của Người thành những ngọn lửa.8 Nhưng về Người Con, th́ Kinh Thánh lại nói: Lạy Thiên Chúa, ngôi báu Ngài sẽ trường tồn vạn kỷ! Vương trượng Ngài, vương trượng công minh.9 Ngài ưa điều chính trực, ghét điều gian ác. Chính v́ vậy, Thiên Chúa là Thiên Chúa của Ngài đă tôn phong Ngài vượt trổi các đồng liêu, mà xức cho dầu thơm hoan lạc.10 Và có lời khác: Lạy Chúa, lúc khởi đầu, Chúa đă đặt nền trái đất, chính tay Ngài tạo tác ṿm trời.11 Chúng tiêu tan, Chúa vẫn c̣n hoài; chúng đều sẽ cũ đi như chiếc áo.12 Chúa sẽ cuốn chúng lại như cuốn áo choàng, chúng sẽ bị thay như người ta thay áo. Nhưng chính Chúa vẫn tiền hậu y nguyên, và năm tháng của Ngài sẽ không chấm dứt.13 Và có bao giờ Thiên Chúa đă phán với một thiên thần nào rằng: Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt làm bệ dưới chân Con?14 Nào tất cả các vị đó không phải là những bậc thiêng liêng chuyên lo phụng thờ Chúa, được sai đi phục vụ để mưu ích cho những kẻ sẽ được thừa hưởng ơn cứu độ sao?

Chương 2

Lời khuyên nhủ

2.  1 V́ thế, chúng ta càng phải chú tâm hơn nữa vào những lời đă nghe, kẻo bị cuốn trôi đi mất.2 Quả vậy, nếu lời được các thiên thần loan báo đă có hiệu lực, và nếu mọi vi phạm cũng như bất tuân đều bị phạt đích đáng,3 th́ làm sao chúng ta thoát khỏi, nếu chúng ta thờ ơ với ơn cứu độ cao quư như thế? Ơn cứu độ đó, đầu tiên đă được Chúa rao giảng, rồi được những kẻ nghe cho chúng ta thấy là có hiệu lực,4 đồng thời được Thiên Chúa chứng thực bằng những dấu lạ điềm thiêng, bằng nhiều quyền năng khác nhau và bằng các ân huệ của Thánh Thần mà Người phân phát tuỳ ư muốn của Người.

Đức Ki-tô thực hiện công tŕnh cứu chuộc, chứ không phải các thiên thần

5 Thật vậy, Thiên Chúa đă không trao cho các thiên thần quyền làm chủ thế giới tương lai, thế giới mà chúng ta đang nói đến.6 Nhưng trong một đoạn Kinh Thánh kia, có người đă làm chứng rằng: Phàm nhân là chi mà Chúa cần nhớ đến? Con người là ǵ mà Chúa phải thăm nom?7 Chúa đă làm cho con người thua kém các thiên thần trong một thời gian ngắn, ban vinh quang, danh dự làm mũ triều thiên,8 đặt muôn loài, muôn sự dưới chân con người, bắt chúng phải phục quyền con người. Khi bắt muôn loài muôn sự phải phục quyền con người, Thiên Chúa không để cho một sự ǵ không phục quyền con người. Thật ra, hiện nay chúng ta chưa thấy muôn loài muôn sự phục quyền con người.9 Nhưng con người đă bị thua kém các thiên thần trong một thời gian ngắn, th́ chúng ta lại thấy được Thiên Chúa ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên, bởi v́ đă cam chịu tử h́nh. Con người đó, chính là Đức Giê-su. Thật vậy, Đức Giê-su đă phải nếm sự chết, là để cho mọi người được cứu độ, nhờ ơn Thiên Chúa.

10 Quả thế, Thiên Chúa là nguồn gốc và cùng đích mọi loài, chính v́ muốn đưa muôn vàn con cái đến vinh quang, nên Người đă làm một việc thích đáng, là cho Đức Giê-su trải qua gian khổ mà trở thành vị lănh đạo thập toàn, dẫn đưa họ tới nguồn ơn cứu độ.11 Thật vậy, Đấng thánh hoá là Đức Giê-su, và những ai được thánh hoá đều do một nguồn gốc. V́ thế, Người đă không hổ thẹn gọi họ là anh em,12 khi nói: Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho anh em tất cả được hay, và trong đại hội Dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương.

13 Người lại nói: Phần tôi, tôi sẽ tin cậy Thiên Chúa. Người lại nói: Này tôi đây, cùng với những con cái mà Thiên Chúa đă ban cho tôi.

14 Như thế, v́ con cái th́ đều chung một huyết nhục, nên Đức Giê-su đă cùng mang lấy huyết nhục đó. Như vậy, nhờ cái chết của Người, Người đă tiêu diệt tên lănh chúa gây ra sự chết, tức là ma quỷ,15 và đă giải thoát những ai v́ sợ chết mà suốt đời sống trong t́nh trạng nô lệ.16 V́ những kẻ được Người giúp đỡ không phải là các thiên thần, mà là con cháu Áp-ra-ham.17 Bởi thế, Người đă phải nên giống anh em ḿnh về mọi phương diện, để trở thành một vị Thượng Tế nhân từ và trung tín trong việc thờ phượng Thiên Chúa, hầu đền tội cho dân.18 V́ bản thân Người đă trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách.

II. ĐỨC GIÊ-SU,VỊ THƯỢNG TẾ TRUNG THÀNH VÀ BIẾT CẢM THƯƠNG

Chương 3

Đức Ki-tô cao trọng hơn ông Mô-sê

3.  1 Do đó, thưa anh em là những người trong dân thánh, những người được hưởng chung ơn gọi bởi trời, anh em hăy ngắm nh́n Đức Giê-su là Sứ Giả, là Thượng Tế, là Trung Gian cho chúng ta tuyên xưng đức tin.2 Người trung thành với Đấng đă đặt Người lên chức vụ đó, cũng như ông Mô-sê đă trung thành khi thi hành chức vụ đối với toàn thể nhà Thiên Chúa.3 Như người làm nhà đáng tôn vinh hơn chính ngôi nhà, th́ Đức Giê-su cũng được coi là đáng tôn vinh hơn ông Mô-sê.4 Quả thật, nhà nào cũng phải có người làm ra, và Đấng làm ra mọi sự là Thiên Chúa.5 Ông Mô-sê đă trung thành khi thi hành chức vụ đối với toàn thể nhà Thiên Chúa, với tư cách là tôi tớ để làm chứng về các điều Thiên Chúa sẽ phán truyền.6 C̣n Đức Ki-tô th́ trung thành với tư cách là người Con đứng đầu nhà Thiên Chúa. Mà nhà Thiên Chúa là chính chúng ta, miễn là chúng ta giữ vững đến cùng ḷng tin tưởng và thái độ hiên ngang về niềm hy vọng của chúng ta.

Đức tin dẫn vào chốn yên nghỉ của Thiên Chúa

7 V́ thế, như lời Thánh Thần phán: Ngày hôm nay, nếu các ngươi nghe tiếng Chúa,8 th́ chớ cứng ḷng như hồi chúng nổi loạn, như ngày chúng thử thách Ta trong sa mạc,9 nơi cha ông các ngươi đă từng ḍ xét mà thử thách Ta và đă thấy các việc Ta làm10 suốt bốn mươi năm. V́ thế, Ta đă nổi giận với ḍng giống này, Ta đă nói: Tâm hồn chúng cứ lầm lạc măi, chúng nào biết đến đường lối của Ta.11 Nên Ta mới thịnh nộ thề rằng: chúng sẽ không được vào chốn yên nghỉ của Ta!12 Thưa anh em, hăy đề pḥng, đừng để người nào trong anh em có ḷng dạ xấu xa chối bỏ đức tin mà ĺa xa Thiên Chúa hằng sống.13 Trái lại, ngày ngày anh em hăy khuyên bảo nhau bao lâu c̣n được gọi là ngày hôm nay, kẻo có ai trong anh em ra cứng ḷng v́ bị tội lỗi lừa gạt.14 Quả thế, chúng ta đă được thông phần Đức Ki-tô, miễn là chúng ta cứ giữ vững cho đến cùng căn bản của ḷng tin đă có từ ban đầu.15 Trong câu: Ngày hôm nay, nếu các ngươi nghe tiếng Chúa, th́ chớ cứng ḷng như hồi chúng nổi loạn,16 ai là những kẻ đă nghe tiếng Chúa, rồi nổi loạn? Chẳng phải là những người đă được ông Mô-sê đưa ra khỏi Ai-cập sao?17 Thiên Chúa đă nổi giận với ai suốt bốn mươi năm? Chẳng phải là với những người đă phạm tội và đă ngă gục, bỏ xác trong sa mạc sao?18 Nhưng Người thề với ai: Sẽ không được vào chốn yên nghỉ của Người, nếu không phải là với những kẻ bất tuân?19 Và chúng ta thấy rằng họ đă không thể vào được đó, bởi v́ họ chối bỏ đức tin.

Chương 4

4.  1 Vậy chúng ta phải sợ rằng trong khi lời hứa được vào chốn yên nghỉ của Người vẫn c̣n đó, mà có ai trong anh em bị coi đă mất cơ hội.2 Quả thế, chúng ta đă được nghe loan báo Tin Mừng như những người kia. Nhưng lời họ đă nghe không sinh ích ǵ cho họ, bởi v́ những kẻ đă nghe không lấy đức tin đáp lại lời giảng.3 C̣n chúng ta là những người tin, chúng ta đang vào chốn yên nghỉ đó, như lời Thiên Chúa đă phán: Nên Ta mới thịnh nộ thề rằng: chúng sẽ không được vào chốn yên nghỉ của Ta. Công việc của Thiên Chúa đă hoàn thành từ tạo thiên lập địa,4 như có chỗ Thiên Chúa phán về ngày thứ bảy rằng: Khi đă làm xong mọi công việc, th́ ngày thứ bảy Thiên Chúa nghỉ.5 Trong đoạn thánh vịnh nói trên, lại cũng có lời chép rằng: Chúng sẽ không được vào chốn yên nghỉ của Ta.6 Vậy v́ phải có một số người được vào chốn yên nghỉ, và v́ những người đầu tiên được nghe loan báo Tin Mừng đă không được vào bởi họ bất tuân,7 nên Thiên Chúa lại ấn định một ngày khác, tức là ngày hôm nay, khi Người dùng vua Đa-vít mà phán, sau một thời gian rất lâu dài, như đă nói ở trên: Ngày hôm nay, nếu các ngươi nghe tiếng Chúa, th́ chớ cứng ḷng.8 Thật vậy, nếu ông Giô-suê đă cho họ được yên nghỉ, th́ sau đó, Thiên Chúa đă chẳng nói đến một ngày khác nữa.9 Như thế, Dân Thiên Chúa c̣n có thể được nghỉ như Thiên Chúa nghỉ ngày thứ bảy,10 v́ ai đă vào chốn yên nghỉ của Thiên Chúa, th́ cũng đă nghỉ sau khi làm xong công việc của ḿnh, như Thiên Chúa đă nghỉ sau khi làm xong công việc của Người.11 Vậy, chúng ta hăy cố gắng vào chốn yên nghỉ này, kẻo có ai cũng theo gương bất tuân đó mà sa ngă.12 Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tuỷ; lời đó phê phán tâm t́nh cũng như tư tưởng của ḷng người.13 V́ không có loài thọ tạo nào mà không hiện rơ trước Lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Đấng có quyền đ̣i chúng ta trả lẽ.

Đức Giê-su, vị Thượng Tế biết cảm thương

14 Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đă băng qua các tầng trời, là Đức Giê-su, Con Thiên Chúa. Vậy chúng ta hăy giữ vững lời tuyên xưng đức tin.15 Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, v́ Người đă chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội.16 Bởi thế, ta hăy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lănh ơn trợ giúp mỗi khi cần.

Chương 5

5.  1 Quả vậy, thượng tế nào cũng là người được chọn trong số người phàm, và được đặt lên làm đại diện cho loài người, trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội.2 Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc, bởi v́ chính người cũng đầy yếu đuối;3 mà v́ yếu đuối, nên người phải dâng lễ đền tội cho dân thế nào, th́ cũng phải dâng lễ đền tội cho chính ḿnh như vậy.4 Không ai tự gán cho ḿnh vinh dự ấy, nhưng phải được Thiên Chúa gọi, như ông A-ha-ron đă được gọi.5 Cũng vậy, không phải Đức Ki-tô đă tự tôn ḿnh làm Thượng Tế, nhưng là Đấng đă nói với Người: Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đă sinh ra Con,6 như lời Đấng ấy đă nói ở một chỗ khác: Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê.7 Khi c̣n sống kiếp phàm nhân, Đức Giê-su đă lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đă được nhậm lời, v́ có ḷng tôn kính.8 Dầu là Con Thiên Chúa, Người đă phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục;9 và khi chính bản thân đă tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người,10 v́ Người đă được Thiên Chúa tôn xưng là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê.

III. ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ, VỊ THƯỢNG TẾ ĐÍCH THỰC

Đời sống Ki-tô hữu và vấn đề đạo lư

11 Về vấn đề này, chúng tôi c̣n có nhiều điều phải nói, nhưng khó mà cắt nghĩa, v́ anh em đă trở nên uể oải không muốn nghe.12 Quả thật, với thời gian, đáng lẽ anh em đă phải là những bậc thầy, thế mà anh em lại cần phải để cho người ta dạy anh em những điều sơ đẳng về các sấm ngôn của Thiên Chúa: thay v́ thức ăn đặc, anh em lại phải cần dùng sữa.13 Thật vậy, phàm ai c̣n phải dùng đến sữa, th́ không hiểu ǵ về đạo lư liên quan đến sự công chính, v́ người ấy vẫn là trẻ con.14 Thức ăn đặc th́ dành cho những người đă trưởng thành, những người nhờ thực hành mà rèn luyện được khả năng phân biệt điều lành điều dữ.

Chương 6

Ư định của tác giả

6.  1 V́ thế, gác một bên giáo huấn sơ đẳng về Đức Ki-tô, chúng ta hăy vươn tới tŕnh độ giáo huấn trưởng thành mà không trở lại những điều căn bản, là ḷng sám hối ăn năn v́ những việc đưa tới sự chết, là niềm tin vào Thiên Chúa,2 là giáo lư về mấy loại phép rửa; là nghi thức đặt tay, là vấn đề kẻ chết sống lại và cuộc phán xét cuối cùng.3 Đó là điều chúng ta sắp làm, nếu Thiên Chúa cho phép.

4 Quả thật, những kẻ đă một lần được chiếu sáng, đă được nếm thử ân huệ bởi trời, đă được thông chia Thánh Thần,5 đă được thưởng thức Lời tốt đẹp của Thiên Chúa và được cảm nghiệm những sức mạnh của thế giới tương lai,6 những kẻ ấy mà sa ngă, th́ không thể được đổi mới một lần nữa để sám hối ăn năn, v́ họ đă tự tay đóng đinh Con Thiên Chúa vào thập giá một lần nữa và đă công khai sỉ nhục Người.7 Khi mảnh đất nào được thấm mưa thường xuyên đổ xuống và sinh ra những loại cây có ích cho người canh tác, th́ mảnh đất ấy nhận được phúc lành của Thiên Chúa.8 Nhưng nếu chỉ sinh ra những gai cùng góc, th́ đó là mảnh đất bỏ đi, bị nguyền rủa đến nơi rồi, và rốt cuộc sẽ bị đốt cháy.

Lời mang lại hy vọng và khích lệ

9 Anh em thân mến, mặc dầu nói như thế, chúng tôi tin chắc rằng anh em ở trong một t́nh trạng tốt đẹp hơn và thuận lợi để được ơn cứu độ.10 Quả thế, Thiên Chúa không bất công đến nỗi quên việc anh em đă làm và ḷng yêu mến anh em đă tỏ ra đối với danh Người, khi trước đấy anh em phục vụ các người trong dân thánh, và hiện nay vẫn c̣n đang phục vụ.11 Nhưng chúng tôi ao ước cho mỗi người trong anh em cũng tỏ ra nhiệt thành như thế, để niềm hy vọng của anh em được thực hiện đầy đủ cho đến cùng.12 Anh em đừng trở nên uể oải, nhưng hăy bắt chước những người nhờ có đức tin và ḷng kiên nhẫn mà được thừa hưởng các lời hứa.

13 Quả thế, khi Thiên Chúa hứa với ông Áp-ra-ham, Người đă không thể lấy danh ai cao trọng hơn ḿnh mà thề, nên đă lấy chính danh ḿnh mà thề14 rằng: Ta sẽ ban phúc dư dật cho ngươi và sẽ làm cho ḍng dơi ngươi nên đông vô số.15 Như thế, v́ nhẫn nại đợi chờ, ông Áp-ra-ham đă nhận được lời hứa.16 Người ta thường lấy danh một người cao trọng hơn ḿnh mà thề, và lời thề là một bảo đảm chấm dứt mọi tranh chấp giữa người ta với nhau.17 Do đó, v́ Thiên Chúa muốn chứng minh rơ hơn cho những người thừa hưởng lời hứa được biết về ư định bất di bất dịch của Người, nên Người đă dùng lời thề mà bảo đảm điều Người đă hứa.18 Như vậy, cả lời hứa lẫn lời thề đều bất di bất dịch, và khi thề hứa, Thiên Chúa không thể nói dối được. Do đó, chúng ta là những kẻ ẩn náu bên Thiên Chúa, chúng ta được mạnh mẽ khuyến khích nắm giữ niềm hy vọng dành cho chúng ta.19 Chúng ta có niềm hy vọng đó cũng tựa như cái neo chắc chắn và bền vững của tâm hồn, ch́m sâu vào bên trong bức màn cung thánh.20 Đó là nơi Đức Giê-su đă vào như người tiền phong mở đường cho chúng ta, sau khi trở thành vị Thượng Tế đời đời theo phẩm trật Men-ki-xê-đê.

1. ĐỨC KI-TÔ CAO TRỌNG HƠN CÁC TƯ TẾ LÊ-VI

Chương 7

Ông Men-ki-xê-đê

7.  1 Quả vậy, ông Men-ki-xê-đê là vua Sa-lem, là tư tế của Thiên Chúa Tối Cao, đă đón gặp và chúc lành cho ông Áp-ra-ham, lúc ông này đang trên đường về sau khi đánh bại các vua.2 Ông Áp-ra-ham đă chia cho ông Men-ki-xê-đê một phần mười chiến lợi phẩm. Trước hết, ông tên là Men-ki-xê-đê, nghĩa là “vua công chính”; rồi ông lại là vua Sa-lem, nghĩa là “vua b́nh an”.3 Ông không có cha, không có mẹ, không có gia phả, cuộc đời không có khởi đầu, cũng không có kết thúc. Như thế là ông giống Con Thiên Chúa: măi măi ông vẫn là tư tế.

Ông Men-ki-xê-đê nhận một phần mười chiến lợi phẩm của ông Áp-ra-ham

4 Anh em hăy coi xem: ông Men-ki-xê-đê cao trọng biết bao! Ông Áp-ra-ham là tổ phụ, mà cũng đă dâng cho ông một phần mười chiến lợi phẩm tốt nhất.5 Trong hàng con cháu ông Lê-vi, những ai lănh chức tư tế, th́ theo Lề Luật, được lệnh thu một phần mười hoa lợi của dân, tức là của anh em ḿnh, mặc dù những người này cũng từ ḷng ông Áp-ra-ham mà sinh ra.6 C̣n ông Men-ki-xê-đê, tuy không thuộc ḍng tộc Lê-vi, lại thu một phần mười chiến lợi phẩm của ông Áp-ra-ham và chúc lành cho ông là người đă nhận được lời hứa.7 Điều không ai chối căi được là chỉ người dưới mới nhận lời chúc lành của người trên.8 Hơn nữa, một đàng các tư tế Lê-vi thu một phần mười hoa lợi là những người phàm phải chết; một đàng ông Men-ki-xê-đê, người thu một phần mười chiến lợi phẩm, lại là nhân vật đang sống, như lời Kinh Thánh chứng nhận.9 Có thể nói rằng: chính ông Lê-vi, người thu một phần mười hoa lợi, cũng đă nộp một phần mười chiến lợi phẩm qua ông Áp-ra-ham,10 v́ ông c̣n ở trong ḷng ông tổ Áp-ra-ham, khi ông Men-ki-xê-đê ra đón gặp ông này.

Từ chức tư tế Lê-vi đến chức tư tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê

11 Chức vụ tư tế Lê-vi là nền tảng của Lề Luật Thiên Chúa đă ban cho Dân. Vậy giả như người ta đạt được sự hoàn thiện nhờ chức vụ tư tế đó rồi, th́ c̣n cần chi phải đặt lên một tư tế khác theo phẩm trật Men-ki-xê-đê, thay v́ theo phẩm trật A-ha-ron?12 Quả thế, một khi chức tư tế thay đổi, th́ nhất thiết phải thay đổi Lề Luật.13 Thật ra những điều nói trên nhắm đến một người thuộc một chi tộc khác, chi tộc này chưa hề có ai đă phục vụ bàn thờ.14 Hiển nhiên là Chúa chúng ta đă xuất thân từ chi tộc Giu-đa, một chi tộc không được ông Mô-sê nói ǵ đến, khi bàn về các tư tế.

Băi bỏ Lề Luật cũ

15 Điều ấy lại c̣n hiển nhiên hơn nữa, khi một vị tư tế khác tương tự như ông Men-ki-xê-đê xuất hiện;16 vị này đă trở nên tư tế không phải do Lề Luật quy định việc cha truyền con nối, nhưng do sức mạnh của một đời sống bất diệt.17 Quả thật, có lời chứng nhận rằng: Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê.18 Như vậy, một đàng, quy luật cũ đă bị băi bỏ, v́ có nhược điểm và vô ích,19 -thật thế, Lề Luật đă chẳng làm cho cái ǵ nên hoàn hảo-; đàng khác, một niềm hy vọng tốt đẹp hơn đă được đưa vào thay thế, nhờ đó chúng ta đến gần Thiên Chúa.

Đức Ki-tô là Thượng Tế đời đời

20 Hơn nữa, điều ấy đă xảy ra không phải là không có lời thề. Một đàng, các tư tế Lê-vi đă trở nên tư tế mà không có lời thề;21 c̣n Đức Giê-su khi trở nên tư tế, th́ lại có lời thề của Đấng nói với Người: Đức Chúa đă thề ước, Người sẽ chẳng rút lời, rằng: Muôn thuở, Con là Thượng Tế.22 Do đó, Đức Giê-su đă trở nên Đấng bảo đảm cho một giao ước tốt đẹp hơn.23 Lại nữa, trong ḍng tộc Lê-vi, có nhiều người kế tiếp nhau làm tư tế, bởi v́ họ phải chết, không thể giữ măi chức vụ đó.24 C̣n Đức Giê-su, chính v́ Người hằng sống muôn đời, nên phẩm vị tư tế của Người tồn tại măi măi.25 Do đó, Người có thể đem ơn cứu độ vĩnh viễn cho những ai nhờ Người mà tiến lại gần Thiên Chúa. Thật vậy, Người hằng sống để chuyển cầu cho họ.

Vị Thượng Tế thập toàn

26 Phải, đó chính là vị Thượng Tế mà chúng ta cần đến: một vị Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn, vô tội, tách biệt khỏi đám tội nhân và được nâng cao vượt các tầng trời.27 Đức Giê-su không như các vị thượng tế khác: mỗi ngày họ phải dâng lễ tế hy sinh, trước là để đền tội của ḿnh, sau là để đền thay cho dân; phần Người, Người đă dâng chính ḿnh và chỉ dâng một lần là đủ.28 V́ Luật Mô-sê th́ đặt làm thượng tế những con người vốn mỏng gịn yếu đuối, c̣n lời thề có sau Lề Luật, lại đặt Người Con đă nên thập toàn cho đến muôn đời.

2. PHỤNG TỰ, THÁNH ĐIỆN VÀ ĐỊA VỊ TRUNG GIAN CỦA ĐỨC KI-TÔ CAO TRỌNG HƠN

Chương 8

Chức tư tế mới và thánh điện mới

8.  1 Điểm chủ yếu trong những điều đang nói ở đây là điểm này: chúng ta có một vị Thượng Tế cao cả như thế ngự bên hữu ngai Đấng uy linh ở trên trời.2 Vị đó lo việc tế tự trong cung thánh, trong lều trại thật, do Thiên Chúa chứ không phải do người phàm dựng lên.3 Quả vậy, bất cứ ai được phong làm thượng tế cũng là để dâng lễ vật và tế phẩm; v́ thế, vị này cũng cần phải có cái ǵ để dâng.4 Vậy, giả như Đức Giê-su ở dưới thế, th́ Người chẳng phải là tư tế, bởi v́ đă có những người dâng lễ vật như Luật truyền.5 Những người này lo việc phụng tự trong một thánh điện, mà thánh điện này chỉ là h́nh ảnh lu mờ mô phỏng thánh điện trên trời. Quả vậy, khi ông Mô-sê sắp dựng lều trại, th́ ông được Thiên Chúa phán dạy rằng: Hăy nh́n xem và làm tất cả theo mẫu đă chỉ cho ngươi trên núi.

Đức Ki-tô, trung gian của một giao ước tốt đẹp hơn

6 Nhưng hiện nay, Đức Giê-su được một tác vụ cao trọng hơn, bởi v́ Người là trung gian của một giao ước tốt đẹp hơn; giao ước này căn cứ vào những lời hứa tốt đẹp hơn.7 Thật vậy, giả như giao ước thứ nhất đă hoàn hảo rồi, th́ chẳng cần phải t́m giao ước thứ hai để thay thế.8 Quả thật, Thiên Chúa khiển trách Dân rằng: Đức Chúa phán: Này sắp đến những ngày Ta hoàn thành một Giao Ước Mới với nhà Ít-ra-en và nhà Giu-đa.9 Giao ước đó sẽ không như giao ước Ta đă thiết lập với cha ông của chúng, trong ngày Ta cầm tay dẫn chúng ra khỏi Ai-cập. Bởi v́ chúng đă không trung thành với giao ước của Ta, nên Ta cũng đă bỏ mặc chúng, Đức Chúa phán:10 Đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en sau những ngày đó, Đức Chúa phán: Ta sẽ ghi vào ḷng trí chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng lề luật của Ta; Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, c̣n chúng sẽ là Dân của Ta.11 Không ai c̣n phải dạy đồng bào ḿnh, không ai c̣n phải dạy anh em ḿnh rằng: “Hăy học cho biết Đức Chúa”, v́ hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta.12 Ta sẽ dung thứ những điều gian ác chúng làm, sẽ không c̣n nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa.

13 Khi Thiên Chúa nói đến Giao Ước Mới, Người làm cho giao ước thứ nhất hoá ra giao ước cũ; và cái ǵ cũ kỹ, lỗi thời, th́ sắp tan biến đi.

Chương 9

Đức Ki-tô tiến vào thánh điện trên trời

9.  1 Vậy, giao ước thứ nhất đă có những quy luật phụng tự và có thánh điện dưới đất.2 Quả thật, một cái lều, cái lều thứ nhất, đă được dựng lên; lều này được gọi là Nơi Thánh, có cây đèn bảy ngọn, có bàn và bánh dâng tiến.3 Đằng sau bức màn thứ hai, có một cái lều gọi là Nơi Cực Thánh.4 Trong đó, có hương án bằng vàng và Ḥm Bia Giao Ước hoàn toàn bọc vàng; Ḥm Bia này chứa b́nh vàng đựng man-na, cây gậy trổ hoa của ông A-ha-ron và các tấm bia Giao Ước.5 Trên Ḥm Bia, có hai tượng kê-ru-bim rạng ngời vinh quang Thiên Chúa, dang cánh che phủ nắp xá tội. Bây giờ không phải là lúc nói tỉ mỉ về các điều đó.

6 Mọi sự xếp đặt như thế rồi, các tư tế thường xuyên vào lều thứ nhất để cử hành việc phụng tự.7 C̣n lều thứ hai, th́ chỉ một ḿnh vị thượng tế mới được vào mỗi năm một lần, đem theo máu để dâng làm của lễ đền tội cho chính ḿnh và cho dân.8 Như thế, Thánh Thần tỏ cho biết là lối vào Nơi Cực Thánh chưa được mở, bao lâu lều thứ nhất vẫn c̣n đó.9 Điều ấy là h́nh ảnh ám chỉ thời hiện tại, cho thấy những lễ vật và hy lễ dâng tiến Thiên Chúa không thể làm cho lương tâm người cử hành việc phụng tự trở nên hoàn thiện.10 Những cái đó chỉ liên quan đến của ăn thức uống cùng các loại nghi thức tẩy rửa, và là những quy luật chỉ có hiệu lực bên ngoài, buộc phải giữ cho đến thời Thiên Chúa chấn chỉnh mọi sự.

11 Nhưng Đức Ki-tô đă đến làm Thượng Tế đem phúc lộc của thế giới tương lai. Để vào cung thánh, Người đă đi qua một cái lều lớn hơn và hoàn hảo hơn, không do bàn tay con người làm nên, nghĩa là không thuộc về thế giới thọ tạo này.12 Người đă vào cung thánh không phải với máu các con dê, con ḅ, nhưng với chính máu của ḿnh, Người vào chỉ một lần thôi, và đă lănh được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho chúng ta.13 Vậy nếu máu các con dê, con ḅ, nếu nước tro của xác ḅ cái, đem rảy lên ḿnh những kẻ nhiễm uế c̣n thánh hoá được họ, nghĩa là cho thân xác họ trở nên trong sạch,14 th́ máu của Đức Ki-tô càng hiệu lực hơn biết mấy. Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Ki-tô đă tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. Máu của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống.

Đức Ki-tô lấy máu ḿnh lập Giao Ước Mới

15 Bởi vậy, Người là trung gian của một Giao Ước Mới, lấy cái chết của ḿnh mà chuộc tội lỗi người ta đă phạm trong thời giao ước cũ, và đem lại cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi quyền lănh nhận gia nghiệp vĩnh cửu Thiên Chúa đă hứa.16 Ở đâu có chúc thư, th́ cần phải chứng minh rằng người làm chúc thư đă chết.17 Thật vậy, chúc thư chỉ có giá trị khi người làm chúc thư đă chết, bởi v́ chúc thư không bao giờ có hiệu lực bao lâu người làm chúc thư c̣n sống.18 Do đó, nếu không có máu, th́ đă không khai mạc giao ước thứ nhất.19 Quả thế, sau khi ông Mô-sê công bố cho toàn dân mọi điều răn như đă ghi chép trong Sách Luật, th́ ông lấy máu các con bê, con dê hoà lẫn với nước, rồi dùng len đỏ thắm và cành hương thảo mà rảy trên chính cuốn Sách Luật cũng như trên toàn dân và20 nói: Đây là máu giao ước, Thiên Chúa đă truyền cho anh em tuân giữ.21 Rồi, cũng theo cách thức đó, ông rảy máu vào lều thánh và mọi đồ phụng tự.22 Chiếu theo Lề Luật, hầu hết mọi sự đều được thanh tẩy bằng máu. Không có máu đổ ra, th́ không có ơn tha thứ.23 Vậy, nếu các h́nh ảnh mô phỏng những thực tại trên trời c̣n cần phải được thanh tẩy như thế, th́ chính những thực tại trên trời đó lại càng phải được thanh tẩy bằng những hy lễ cao trọng hơn biết mấy.24 Quả thế, Đức Ki-tô đă chẳng vào một cung thánh do tay người phàm làm ra, v́ cung thánh ấy chỉ là h́nh bóng của cung thánh thật. Nhưng Người đă vào chính cơi trời, để giờ đây ra đứng trước mặt Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta.25 Người vào đó, không phải để dâng chính ḿnh làm của lễ nhiều lần, như vị thượng tế mỗi năm phải đem theo máu của loài khác mà vào cung thánh.26 Chẳng vậy, Người đă phải chịu khổ h́nh nhiều lần, từ khi thế giới được tạo thành. Nhưng nay, vào kỳ kết thúc thời gian, Người đă xuất hiện chỉ một lần, để tiêu diệt tội lỗi bằng việc hiến tế chính ḿnh.27 Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét.28 Cũng vậy, Đức Ki-tô đă tự hiến tế chỉ một lần, để xoá bỏ tội lỗi muôn người. Người sẽ xuất hiện lần thứ hai, nhưng lần này không phải để xoá bỏ tội lỗi, mà để cứu độ những ai trông đợi Người.

TÓM LƯỢC: HY LỄ CỦA ĐỨC KI-TÔ CAO TRỌNG HƠN HY LỄ THEO LUẬT MÔ-SÊ

Chương 10

Hy lễ theo luật cũ th́ vô hiệu

10.  1 Lề Luật chỉ phác hoạ lờ mờ những phúc lộc của thế giới tương lai, chứ không phản ánh chính xác những thực tại đó. Cho nên, Lề Luật không bao giờ có thể làm cho những người tiến lại gần Thiên Chúa được nên hoàn thiện, nhờ những ngần ấy thứ hy lễ người ta cứ dâng măi năm này qua năm khác.2 Chẳng vậy, người ta đă thôi không c̣n dâng hy lễ, v́ giả như những kẻ làm việc thờ phượng đă được thanh tẩy dứt khoát rồi, th́ họ đâu c̣n ư thức ḿnh có tội nữa?3 Trái lại, năm này qua năm khác, chính những hy lễ đó nhắc cho người ta nhớ ḿnh có tội.4 Thật thế, máu các con ḅ, con dê không thể nào xoá được tội lỗi.5 V́ vậy, khi vào trần gian, Đức Ki-tô nói: Chúa đă không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đă tạo cho con một thân thể.6 Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội.7 Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ư Ngài, như Sách Thánh đă chép về con.

8 Trước hết, Đức Ki-tô nói: Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa đă chẳng ưa, chẳng thích, mà đó chính là những thứ của lễ được dâng tiến theo Lề Luật truyền.9 Rồi Người nói: Này con đây, con đến để thực thi ư Ngài. Thế là Người băi bỏ các lễ tế cũ mà thiết lập lễ tế mới.10 Theo ư đó, chúng ta được thánh hoá nhờ Đức Giê-su Ki-tô đă hiến dâng thân ḿnh làm lễ tế, chỉ một lần là đủ.

Hy lễ của Đức Ki-tô th́ hữu hiệu

11 Vị tư tế nào cũng phải đứng trong Đền Thờ lo việc phụng tự mỗi ngày và dâng đi dâng lại cũng ngần ấy thứ lễ tế; mà những lễ tế đó chẳng bao giờ xoá bỏ được tội lỗi.12 C̣n Đức Ki-tô, sau khi dâng lễ tế duy nhất để đền tội cho nhân loại, Người đă lên ngự bên hữu Thiên Chúa đến muôn đời.13 Và từ khi đó, Người chờ đợi ngày các kẻ thù bị đặt làm bệ dưới chân.14 Quả thật, Người chỉ dâng hiến lễ một lần, mà vĩnh viễn làm cho những kẻ Người đă thánh hoá được nên hoàn hảo.15 Điều đó cả Thánh Thần cũng làm chứng cho chúng ta thấy. Quả thật, sau khi phán:16 Đây là giao ước Ta sẽ lập với chúng sau những ngày đó, th́ Đức Chúa phán: Ta sẽ ghi vào tâm khảm chúng, sẽ khắc vào ḷng trí chúng lề luật của Ta.17 Ta sẽ không c̣n nhớ đến lỗi lầm và việc gian ác của chúng nữa.18 Mà nơi nào đă có ơn tha tội, th́ đâu cần lễ đền tội nữa.

IV. ĐỨC TIN KIÊN TR̀

Chuyển tiếp

19 Vậy, thưa anh em, nhờ máu Đức Giê-su đă đổ ra, chúng ta được mạnh dạn bước vào cung thánh.20 Người đă mở cho chúng ta một con đường mới và sống động qua bức màn, tức là chính thân xác của Người.21 Chúng ta lại có một vị tư tế cao trọng đứng đầu nhà Thiên Chúa.22 V́ thế, chúng ta hăy tiến lại gần Thiên Chúa với một ḷng chân thành và một đức tin trọn vẹn, v́ trong ḷng th́ đă được tẩy sạch mọi vết nhơ của lương tâm, c̣n ngoài xác th́ đă được tắm rửa bằng nước tinh tuyền.23 Chúng ta hăy tiếp tục tuyên xưng niềm hy vọng của chúng ta cách vững vàng, v́ Đấng đă hứa là Đấng trung tín.24 Chúng ta hăy để ư đến nhau, làm sao cho người này thúc đẩy người kia sống yêu thương và làm những việc tốt.25 Chúng ta đừng bỏ các buổi hội họp, như vài người quen làm; trái lại, phải khuyến khích nhau, nhất là khi anh em thấy Ngày Chúa đến đă gần.

Nguy cơ chối đạo

26 Thật vậy, nếu chúng ta cố t́nh phạm tội sau khi đă học biết sự thật, th́ không c̣n hy lễ nào đền tội được nữa,27 mà chỉ c̣n phải sợ hăi đợi chờ cuộc phán xét và ngọn lửa nóng bừng thiêu huỷ các đối tượng của Thiên Chúa.28 Ai khinh thường luật Mô-sê, theo lời chứng của hai hay ba người, th́ sẽ bị xử tử thẳng tay.29 Phương chi kẻ đă chà đạp Con Thiên Chúa, đă xúc phạm đến Máu Giao Ước đă thánh hiến ḿnh và nhục mạ Thần Khí ban ân sủng, th́ anh em thử nghĩ xem, kẻ ấy đáng chịu h́nh phạt ghê gớm hơn biết mấy!30 V́ chúng ta biết Đấng đă nói: Chính Ta sẽ báo oán, chính Ta sẽ đáp trả. Lại có lời rằng: Chúa sẽ xét xử Dân Người.31 Thật là khủng khiếp, khi phải rơi vào tay Thiên Chúa hằng sống!

Lư do để kiên tŕ

32 Xin anh em nhớ lại những ngày đầu: lúc vừa được ơn chiếu sáng, anh em đă phải đối phó với bao nỗi đau khổ dồn dập.33 Khi th́ anh em bị sỉ nhục và hành hạ trước mặt mọi người, khi th́ phải liên đới với những người cùng cảnh ngộ.34 Quả thật, anh em đă thông phần đau khổ với những người bị tù tội, và đă vui mừng để cho người ta tước đoạt của cải, bởi biết rằng ḿnh có những của vừa quư giá hơn lại vừa bền vững.35 Vậy, anh em đừng đánh mất ḷng tin tưởng mạnh dạn của anh em; ḷng tin tưởng đó sẽ mang lại một phần thưởng lớn lao.36 Anh em cần phải kiên nhẫn, để sau khi thi hành ư Thiên Chúa, anh em được hưởng điều Người đă hứa.37 V́ chỉ c̣n ít lâu nữa, một ít thôi, Đấng phải đến sẽ đến, Người sẽ không tŕ hoăn.38 Người công chính của Ta nhờ ḷng tin sẽ được sống; nhưng nếu người ấy bỏ cuộc, th́ Ta không hài ḷng về người ấy.

39 Phần chúng ta, chúng ta không phải là những người bỏ cuộc để phải hư vong, nhưng là những người có ḷng tin để bảo toàn sự sống.

Chương 11

Đức tin gương mẫu của các tổ phụ

11.  1 Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy.2 Nhờ đức tin ấy, các tiền nhân đă được Thiên Chúa chứng giám.

3 Nhờ đức tin, chúng ta hiểu rằng vũ trụ đă được h́nh thành bởi lời của Thiên Chúa; v́ thế, những cái hữu h́nh là do những cái vô h́nh mà có.4 Nhờ đức tin, ông A-ben đă dâng lên Thiên Chúa một hy lễ cao quư hơn hy lễ của ông Ca-in: nhờ tin như vậy, ông A-ben đă được chứng nhận là người công chính, bởi v́ Thiên Chúa đă chấp nhận những lễ phẩm ông dâng. Và cũng nhờ tin như thế, mà tuy đă chết rồi, ông vẫn c̣n lên tiếng.

5 Nhờ đức tin, ông Kha-nốc được đem đi nơi khác để khỏi chết, và người ta không t́m thấy ông nữa, bởi v́ Thiên Chúa đă đem ông đi. Quả thật, Kinh Thánh chứng nhận rằng: trước khi được đem đi, ông đă làm đẹp ḷng Thiên Chúa.6 Mà không có đức tin, th́ không thể làm đẹp ḷng Thiên Chúa, v́ ai đến gần Thiên Chúa, th́ phải tin là có Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phần thưởng cho những ai t́m kiếm Người.

7 Nhờ đức tin, ông Nô-ê được Thiên Chúa báo cho biết những ǵ người ta chưa thấy; v́ có ḷng kính sợ Thiên Chúa, ông đă đóng một chiếc tàu để cứu gia đ́nh ông. Tin như thế là ông đă lên án thế gian, và được phần gia nghiệp là sự công chính nhờ đức tin.

8 Nhờ đức tin, ông Áp-ra-ham đă vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lănh nhận làm gia nghiệp, và ông đă ra đi mà không biết ḿnh đi đâu.9 Nhờ đức tin, ông đă tới cư ngụ tại Đất Hứa như tại một nơi đất khách, ông sống trong lều cũng như ông I-xa-ác và ông Gia-cóp là những người đồng thừa kế cũng một lời hứa,10 v́ ông trông đợi một thành có nền móng do chính Thiên Chúa vẽ mẫu và xây dựng.11 Nhờ đức tin, cả bà Xa-ra vốn hiếm muộn, cũng đă có thể thụ thai và sinh con nối ḍng vào lúc tuổi đă cao, v́ bà tin rằng Đấng đă hứa là Đấng trung tín.12 V́ thế, do một người duy nhất, một người kể như chết rồi mà đă sinh ra một ḍng dơi nhiều như sao trời cát biển, không tài nào đếm được.13 Tất cả các ngài đă chết, lúc vẫn c̣n tin như vậy, mặc dù chưa được hưởng các điều Thiên Chúa hứa; nhưng từ xa các ngài đă thấy và đón chào các điều ấy, cùng xưng ḿnh là ngoại kiều, là lữ khách trên mặt đất.14 Những người nói như vậy cho thấy là họ đang đi t́m một quê hương.15 Và nếu quả thật họ c̣n nhớ tới quê hương ḿnh đă bỏ ra đi, th́ họ vẫn có cơ hội trở về.16 Nhưng thực ra các ngài mong ước một quê hương tốt đẹp hơn, đó là quê hương trên trời. Bởi vậy, Thiên Chúa đă không hổ thẹn để cho các ngài gọi ḿnh là Thiên Chúa của các ngài, v́ Người đă chuẩn bị một thành cho các ngài.

17 Nhờ đức tin, khi bị thử thách, ông Áp-ra-ham đă hiến tế I-xa-ác; dù đă nhận được lời hứa, ông vẫn hiến tế người con một.18 Về người con này, Thiên Chúa đă phán bảo: Chính do I-xa-ác mà sẽ có một ḍng dơi mang tên ngươi.19 Quả thật, ông Áp-ra-ham nghĩ rằng Thiên Chúa có quyền năng cho người chết trỗi dậy. Rốt cuộc, ông đă nhận lại người con ấy như là một biểu tượng.

20 Nhờ đức tin, khi nh́n về tương lai, ông I-xa-ác đă chúc phúc cho Gia-cóp và Ê-xau.21 Nhờ đức tin, ông Gia-cóp, khi sắp chết, đă chúc phúc cho mỗi người con ông Giu-se; ông dựa vào đầu gậy, cúi ḿnh xuống sụp lạy.22 Nhờ đức tin, ông Giu-se, khi sắp ĺa đời, đă nhắc lại cuộc xuất hành của con cái Ít-ra-en và ra chỉ thị liên quan đến hài cốt của ông.

23 Nhờ đức tin, lúc chào đời, ông Mô-sê đă được cha mẹ giấu đi ba tháng, bởi v́ ông bà thấy đứa trẻ khôi ngô, và không sợ sắc chỉ nhà vua.24 Nhờ đức tin, ông Mô-sê, khi lớn lên đă từ chối không chịu cho người ta gọi là con của công chúa Pha-ra-ô;25 ông thà cùng chịu ngược đăi với Dân Thiên Chúa c̣n hơn là được hưởng cái sung sướng chóng qua do tội lỗi mang lại;26 ông coi sự ô nhục của người được xức dầu là của cải quư báu hơn các kho tàng của người Ai-cập, v́ mắt ông vẫn đăm đăm nh́n phần thưởng mai sau.27 Nhờ đức tin, ông bỏ Ai-cập mà không sợ cơn thịnh nộ của nhà vua; ông vững vàng không nao núng, như thể xem thấy Đấng vô h́nh.28 Nhờ đức tin, ông đă cử hành lễ Vượt Qua và rảy máu để Thần tiêu diệt khỏi đụng đến các con đầu ḷng.29 Nhờ đức tin, người Do-thái đă băng qua Biển Đỏ như đi trên đất khô, c̣n người Ai-cập lại bị chết ch́m trong khi t́m cách rượt theo.

30 Nhờ đức tin, tường thành Giê-ri-khô đă sụp đổ, sau khi dân Ít-ra-en đi ṿng quanh trong bảy ngày.31 Nhờ đức tin, cô kỹ nữ Ra-kháp đă không phải chết cùng với quân phản nghịch, v́ cô đă hoà nhă tiếp đón những người do thám.

32 Tôi c̣n phải nói ǵ nữa đây? Tôi sợ không có đủ thời giờ để kể truyện các ông Ghít-ôn, Ba-rắc, Sam-sôn, Gíp-tác, Đa-vít, Sa-mu-en và các ngôn sứ.33 Nhờ đức tin, các vị này đă chinh phục các nước, thực hành công lư, đạt được những ǵ Thiên Chúa đă hứa; các ngài đă khoá miệng sư tử,34 dập tắt lửa hồng mănh liệt, thoát khỏi lưỡi gươm. Các ngài đă lướt thắng bệnh tật mà trở nên mạnh mẽ, đă tỏ ra dũng cảm tại chiến trường, và đẩy lui được quân ngoại xâm.35 Có những phụ nữ đă thấy thân phận ḿnh chết nay sống lại. Có những người bị tra tấn mà không muốn được giải thoát, để được hưởng một sự sống lại tốt đẹp hơn.36 Có những người phải chịu nhạo cười và roi vọt, hơn nữa c̣n bị xiềng xích và bỏ tù;37 họ bị ném đá, bị cưa đôi, bị chết v́ gươm; họ phải lưu lạc, mặc áo da cừu da dê, chịu thiếu thốn, bị áp bức và hành hạ.38 Thế gian chẳng xứng với họ! Họ đi lang thang trong hoang địa, trên núi đồi, trong hang hốc và hầm hố.39 Nhờ đức tin, tất cả các nhân vật đó đă được chứng giám, thế mà họ không đạt được những điều Thiên Chúa đă hứa.40 Quả thật, Thiên Chúa đă trù liệu cho chúng ta một phần phúc tốt hơn, nên không muốn cho họ đạt tới hạnh phúc trọn vẹn mà không có chúng ta.

Chương 12

Gương sáng của Đức Ki-tô

12.  1 Như thế, phần chúng ta, được ngần ấy nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh, chúng ta hăy cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc ḿnh, và hăy kiên tŕ chạy trong cuộc đua dành cho ta,2 mắt hướng về Đức Giê-su là Đấng khai mở và kiện toàn ḷng tin. Chính Người đă khước từ niềm vui dành cho ḿnh, mà cam chịu khổ h́nh thập giá, chẳng nề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai Thiên Chúa.3 Anh em hăy tưởng nhớ Đấng đă cam chịu để cho những người tội lỗi chống đối ḿnh như thế, để anh em khỏi sờn ḷng nản chí.4 Quả thật, trong cuộc chiến đấu với tội lỗi, anh em chưa chống trả đến mức đổ máu đâu.

Thiên Chúa lấy t́nh cha mà giáo dục

5 Anh em đă quên lời khuyên nhủ được nói với anh em như với những người con: Con ơi, đừng coi nhẹ lời Chúa sửa dạy, chớ nản ḷng khi Người khiển trách.6 V́ Chúa thương ai th́ mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con th́ Người mới cho roi cho vọt.7 Anh em hăy kiên tŕ để cho Thiên Chúa sửa dạy. Người đối xử với anh em như với những người con. Thật vậy, có đứa con nào mà người cha không sửa dạy?8 Nếu anh em không được sửa dạy như tất cả mọi người, th́ khi đó anh em là con ngoại hôn, chứ không phải là con chính thức.9 Vả lại, chúng ta có cha trần thế sửa dạy mà chúng ta vẫn tôn kính, th́ chúng ta lại càng phải tùng phục Cha trên trời để được sống.10 Cha trần thế sửa dạy chúng ta trong một thời gian ngắn, và theo sở thích của ḿnh; c̣n Thiên Chúa sửa dạy là v́ lợi ích của chúng ta, để chúng ta được thông phần vào sự thánh thiện của Người.11 Ngay lúc bị sửa dạy, th́ chẳng ai lấy làm vui thú mà chỉ thấy buồn phiền. Nhưng sau đó, những người chịu rèn luyện như thế sẽ gặt được hoa trái là b́nh an và công chính.12 Bởi vậy, hăy làm cho những bàn tay bủn rủn, những đầu gối ră rời, nên mạnh mẽ.13 Hăy sửa đường cho thẳng mà đi, để người què khỏi trật bước và hơn nữa, c̣n được chữa lành.

Trừng phạt tội bất trung

14 Anh em phải cố ăn ở hoà thuận với mọi người, phải gắng trở nên thánh thiện; v́ không có sự thánh thiện, th́ không ai sẽ được thấy Chúa.15 Anh em phải coi chừng, kẻo có ai lừng khừng mà mất ân sủng của Thiên Chúa, kẻo có ai trở nên rễ đắng nảy mầm, gây xáo trộn và do đó làm hư hỏng nhiều người.16 Đừng có ai gian dâm hoặc phàm tục như Ê-xau, kẻ đă v́ một món ăn mà bán quyền trưởng nam.17 Anh em quá biết: sau này, cho dù muốn được thừa hưởng lời chúc phúc, anh ta cũng không thể làm thay đổi t́nh thế, mặc dù đă khóc lóc van xin.

Hai giao ước

18 Anh em đă chẳng tới một quả núi sờ thấy được, có lửa đang cháy, mây mù, bóng tối và giông tố,19 có tiếng kèn vang dậy, và tiếng nói thét gầm, khiến những kẻ nghe phải van xin đừng để lời ấy thốt ra với họ nữa,20 v́ họ không chịu nổi mệnh lệnh sau đây: Ngay cả thú vật đụng đến núi, cũng phải bị ném đá.21 Cảnh tượng hăi hùng đến mức ông Mô-sê phải nói: Tôi kinh hoàng và run rẩy!22 Nhưng anh em đă tới núi Xi-on, tới thành đô Thiên Chúa hằng sống, là Giê-ru-sa-lem trên trời, với con số muôn vàn thiên sứ. Anh em đă tới dự hội vui,23 dự đại hội giữa các con đầu ḷng của Thiên Chúa, là những kẻ đă được ghi tên trên trời. Anh em đă tới cùng Thiên Chúa, Đấng xét xử mọi người, đến với linh hồn những người công chính đă được nên hoàn thiện.24 Anh em đă tới cùng vị Trung Gian giao ước mới là Đức Giê-su và được máu của Người rảy xuống, máu đó kêu thấu trời c̣n mạnh thế hơn cả máu A-ben.25 Anh em phải coi chừng, chớ từ chối không nghe Đấng phán dạy. Quả thật, những ai từ chối không nghe Đấng tuyên sấm ở dưới đất đă không thoát khỏi h́nh phạt; huống hồ là chúng ta, làm sao chúng ta thoát được, nếu chúng ta quay lưng lại không chịu nghe Đấng tuyên sấm từ trời!26 Xưa tiếng Người phán đă làm cho đất rung chuyển, th́ nay Người lại đưa ra lời hứa sau đây: Một lần nữa, Ta sẽ lay chuyển không những trái đất, mà cả các tầng trời!27 Những tiếng một lần nữa cho thấy rằng những sự vật bị rung chuyển sẽ phải thay đổi, bởi v́ đă được làm ra, để những ǵ không bị rung chuyển được tồn tại.28 Cho nên, bởi v́ chúng ta được lănh nhận một vương quốc vững bền không lay chuyển, chúng ta phải biết ơn Thiên Chúa. Với ḷng biết ơn đó, chúng ta hăy kính sợ mà phụng thờ Thiên Chúa cho đẹp ḷng Người.29 Quả thật, Thiên Chúa chúng ta là một ngọn lửa thiêu.

DẶN BẢO THÊM

Chương 13

Lời nhắn nhủ cuối cùng

13.  1 Anh em hăy giữ măi t́nh huynh đệ.2 Anh em đừng quên tỏ ḷng hiếu khách, v́ nhờ vậy, có những người đă được tiếp đón các thiên thần mà không biết.3 Anh em hăy nhớ đến các người bị xiềng xích, chẳng khác ǵ anh em cũng bị xiềng xích với họ; anh em hăy nhớ đến những người bị hành hạ, chẳng khác ǵ ḿnh với họ chỉ là một thân thể.4 Ai nấy phải tôn trọng hôn nhân, chớ làm cho loan pḥng ra ô uế, v́ Thiên Chúa sẽ xét xử các kẻ gian dâm và ngoại t́nh.5 Trong cách ăn nết ở, anh em đừng có ham tiền, hăy coi những ǵ ḿnh đang có là đủ, v́ Thiên Chúa đă phán: Ta sẽ không bỏ rơi ngươi, Ta sẽ không ruồng bỏ ngươi! ,6 đến nỗi chúng ta có thể tin tưởng mà nói: Có Chúa ở cùng tôi mà bênh đỡ, tôi chẳng sợ ǵ. Hỏi người đời làm chi tôi được?

Về ḷng trung thành

7 Anh em hăy nhớ đến những người lănh đạo đă giảng lời Chúa cho anh em. Hăy nh́n xem cuộc đời họ kết thúc thế nào mà noi theo ḷng tin của họ.8 Đức Giê-su Ki-tô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy măi đến muôn đời.9 Đừng để cho đủ thứ học thuyết xa lạ mê hoặc anh em. Điều tốt là củng cố tâm hồn bằng ân sủng, chứ không phải bằng đồ ăn thức uống, là những thứ chẳng sinh ích ǵ cho những người giữ luật Mô-sê về chuyện ăn uống.10 Chúng ta có một bàn thờ; những ǵ dâng trên đó, các người lo việc phụng tự trong Lều không có quyền ăn.11 Vị thượng tế mang máu thú vật vào cung thánh để dâng làm của lễ đền tội; nhưng thây các thú vật đó đều bị thiêu ở ngoài trại.12 V́ thế, Đức Giê-su đă chịu khổ h́nh ngoài cửa thành, lấy máu ḿnh mà thánh hoá toàn dân.13 Vậy ta hăy ra khỏi trại mà đến với Người, cam ḷng gánh vác nỗi khổ nhục Người đă chịu.14 V́ trên đời này, chúng ta không có thành tŕ bền vững, nhưng đang t́m kiếm thành tŕ tương lai.15 Vậy nhờ Người, chúng ta hăy luôn luôn dùng lời ngợi khen làm lễ tế dâng lên Thiên Chúa, tức là dùng miệng lưỡi mà ca tụng Danh Thánh.16 Anh em chớ quên làm việc từ thiện, giúp đỡ lẫn nhau, v́ Thiên Chúa ưa thích những hy lễ như thế.

Vâng phục các vị lănh đạo tinh thần

17 Anh em hăy vâng lời những người lănh đạo anh em và hăy phục tùng họ, v́ họ chăm sóc linh hồn anh em như những người sẽ phải trả lẽ với Thiên Chúa. Như thế, họ sẽ vui vẻ thi hành phận sự của ḿnh mà không than thở, bởi v́ điều đó chẳng ích ǵ cho anh em.18 Xin anh em cầu nguyện cho chúng tôi. Chúng tôi tin rằng chúng tôi có lương tâm ngay lành, muốn ăn ở tốt trong mọi hoàn cảnh.19 Tôi tha thiết khuyên anh em làm như thế, để tôi được sớm trở về với anh em.

Tin tức. Lời chào cuối thư

20 Thiên Chúa là nguồn mạch b́nh an đă đưa Đức Giê-su, Chúa chúng ta ra khỏi cái chết. Đức Giê-su là vị Mục Tử cao cả của đoàn chiên, là Đấng đă đổ máu ḿnh ra để thiết lập giao ước vĩnh cửu.21 Xin Thiên Chúa ban cho anh em mọi ơn lành để có sức thi hành thánh ư Người. Xin Người thực hiện nơi anh em điều đẹp ḷng Người, nhờ Đức Giê-su Ki-tô. Kính dâng Đức Ki-tô vinh quang đến muôn thuở muôn đời. A-men.

22 Thưa anh em, tôi xin anh em chịu khó nghe lời khuyên này. Vả lại, tôi chỉ viết cho anh em vắn tắt thôi.23 Xin báo cho anh em biết: Ti-mô-thê, người anh em của chúng ta, đă được thả rồi. Nếu anh ấy đến đây sớm, th́ tôi sẽ cùng với anh đến gặp anh em.24 Xin gửi lời chào các vị lănh đạo anh em và mọi người trong dân thánh. Những người từ I-ta-li-a gửi lời chào anh em.25 Chúc tất cả anh em được đầy tràn ân sủng của Thiên Chúa!