THÔNG ĐIỆP “CARITAS  IN  VERITATE”

BÁC ÁI TRONG CHÂN LƯ

CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐICTÔ  XVI

 

GỬI:

CÁC GIÁM MỤC

CÁC LINH MỤC VÀ PHÓ TẾ

NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC THÁNH HIẾN

CÁC TÍN HỮU GIÁO DÂN

VÀ TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI THIỆN CHÍ

 

 

VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN TRONG BÁC ÁI VÀ CHÂN LƯ

 

DẪN NHẬP

 

1.         Bác ái trong chân lư (CARITAS IN VERITATE)! chân lư mà Đức Giêsu đă làm chứng trong cuộc đời tại thế và nhất là qua cái chết và sự phục sinh của Người; t́nh yêu này là sức mạnh điều hướng chính yếu cho việc phát triển đích thực mỗi người và toàn thể nhân loại. T́nh yêu – caritas – là một sức mạnh ngoại thường, thúc đẩy con người dấn thân thật can đảm và quảng đại trong lănh vực công lư và ḥa b́nh. Đó là một sức mạnh bắt nguồn từ Thiên Chúa, Đấng là T̀NH YÊU muôn thuở và là CHÂN LƯ tuyệt đối. Mỗi người sẽ t́m được hạnh phúc của ḿnh khi sáp nhập vào kế hoạch Thiên Chúa dành cho họ, để hiện thực bản thân cách trọn vẹn. Trong kế hoạch  này, con người sẽ t́m thấy sự thật về chính ḿnh và họ sẽ được tự do khi gắn bó với sự thật đó (Ga 8, 22). Do đó, bảo vệ sự thật, xác định sự thật này cách khiêm tốn, xác tín và làm chứng cho sự thật này trong đời sống của ḿnh, là những h́nh thái đúng đắn và tối cần thiết của t́nh yêu. Thật vậy, t́nh yêu “vui khi thấy điều chân thật” (1Cr 13,6). Mọi người đều cảm nhận sự thúc đẩy nội tâm để yêu một cách chân thật: t́nh yêu và chân lư không bao giờ hoàn toàn rời bỏ con người, bởi lẽ t́nh yêu và chân lư là ơn gọi Thiên Chúa đặt để trong tâm hồn và tâm trí của từng người. Đức Giêsu Kitô thanh tẩy và giải thoát việc t́m kiếm t́nh yêu và chân lư của chúng ta khỏi những nghèo hèn yếu đuối thuộc nhân tính, và Người mạc khải cho chúng ta cách trọn vẹn sáng kiến t́nh yêu và kế hoạch hướng đến sự sống đích thực Thiên Chúa đă chuẩn bị cho chúng ta. T́nh yêu trong chân lư  trở thành gương mặt của Chúa Kitô; và trong Đức Kitô, t́nh yêu này trở thành ơn gọi của chúng ta. Ơn gọi của chúng ta là yêu thương anh em trong chân lư của chương tŕnh Thiên Chúa dành cho họ. Thật vậy, chính Chúa Kitô là CHÂN LƯ (Ga 14,6).

 

2.         Bác ái là tâm điểm trong giáo huấn của Giáo hội về xă hội. Mọi trách nhiệm và dấn thân mà giáo huấn ấy kêu gọi đều xuất phát từ t́nh yêu, mà theo lời dạy của Đức Giêsu, t́nh yêu này là bản tóm kết toàn bộ Lề Luật (Mt 22,36-40). T́nh yêu đem đến nội dung chính yếu cho liên hệ cá nhân với Thiên Chúa và với tha nhân; t́nh yêu là nguyên lư không những cho những liên hệ vi mô – trong bạn bè, gia đ́nh và từng nhóm nhỏ – nhưng cả cho những liên hệ vĩ mô – trong liên hệ xă hội , kinh tế và chính trị. Đối với Hội Thánh –  được thấm nhuần Phúc Âm – t́nh yêu là tất cả, chỉ v́ như thánh Gioan đă dạy chúng ta (1Ga 4,8.16) và tôi cũng đă gợi lên trong Thông điệp đầu tiên của tôi: “THIÊN CHÚA LÀ T̀NH YÊU – DEUS CARITAS EST”: mọi sự đều bắt nguồn từ t́nh yêu Thiên Chúa, mọi sự đều được định h́nh bởi t́nh yêu ấy, và mọi sự đều quy hướng về t́nh yêu ấy. T́nh yêu là quà tặng đại nhất mà Thiên Chúa ban cho nhân loại; t́nh yêu là lời hứa của Người và là hy vọng của chúng ta.      

Tôi biết t́nh yêu đă và đang bị tước đoạt ư nghĩa, từ đó đưa đến nguy cơ là người ta sẽ hiểu sai t́nh yêu,  tách rời t́nh yêu ra khỏi đời sống luân lư và trong mọi trường hợp, đều bị mất giá trị. Trong các lănh vực xă hội, pháp lư, văn hóa, chính trị và kinh tế, là những môi trường mà hiểm họa này nổi cộm nhất, t́nh yêu dễ dàng bị coi là không thích hợp trong việc giải thích và định hướng cho trách nhiệm luân lư. V́ thế, cần phải liên kết t́nh yêu với chân lư không những theo định hướng do thánh Phaolô chỉ dạy: VERITAS IN CARITATE – CHÂN LƯ (Sự Thật) TRONG BÁC ÁI  (Ep 4,15), nhưng ngược lại cần phải bổ túc thêm: CARITAS IN VERITATE – BÁC ÁI TRONG CHÂN LƯ.  Chân lư phải được t́m kiếm, khám phá và diễn đạt trong “nhiệm cục – économie –” của t́nh yêu, nhưng ngược lại t́nh yêu cũng phải được hiểu, được xác nhận và thực hiện trong ánh sáng của chân lư. Bằng cách này, không những chúng ta phục vụ t́nh yêu được chân lư soi sáng, mà c̣n mang lại tính khả tín cho chân lư, chứng minh sức thuyết phục và minh xác của chân lư trong bối cảnh thực tiễn của đời sống xă hội. Đây không phải là vấn đề nhỏ ngày nay, trong bối cảnh văn hóa và xă hội đang tương đối hóa chân lư, ít quan tâm tới chân lư, lại c̣n không muốn nh́n nhận sự hiện hữu của chân lư.

 

3          Do mối liên kết chặt chẽ với chân lư, bác ái có thể được nh́n nhận như cách diễn tả chính thực của nhân tính, là yếu tố có tầm quan trọng nền tảng cho các mối tương quan của con người – bao gồm cả b́nh diện công cộng. Chỉ trong chân lư, bac ái mới có thể chiếu tỏa và có thể sống một cách chính thực. Chân lư là ánh sáng trao ban ư nghĩa và giá trị cho t́nh yêu. Đó vừa là ánh sáng của lư trí vừa là ánh sáng của đức tin, nhờ đó, lư trí mới có thể đạt đến chân lư tự nhiên và siêu nhiên của t́nh yêu: lư trí có thể hiểu được ư nghĩa của t́nh yêu là dâng hiến, đón nhận và hiệp thông. Không có chân lư, t́nh yêu sẽ thoái hóa thành cảm tính . T́nh yêu trở thành vỏ ốc trống rỗng, t́m cách lấp đầy bằng những ǵ ḿnh yêu thích. Đó là nguy cơ trầm trọng mà t́nh yêu phải đối mặt trong một nền văn hóa không có chân lư. T́nh yêu trở thành tế vật cho những xúc cảm và ư kiến chủ quan chóng qua, một từ ngữ bị lạm dụng và nát vụn đến độ mang ư nghĩa đối nghịch. Chân lư giải thoát t́nh yêu khỏi sự hạn hẹp của chủ nghĩa duy cảm là thứ tước đoạt nội dung xă hội và tương giao của t́nh yêu, và khỏi một thứ chủ thuyết duy tín tước đoạt khía cạnh nhân văn và vũ trụ của t́nh yêu, ngăn chận t́nh yêu có tầm nh́n nhân bản và phổ quát. Trong chân lư, t́nh yêu phản ánh chiều kích cá nhân và công cộng của niềm tin vào Đấng Thiên Chúa của Kinh Thánh, Đấng vừa là AGAPE – T̀NH YÊU vừa là LOGOS – LỜI: Bác ái và Chân lư, T́nh yêu và Lời.

  

4.         V́ t́nh yêu tràn đầy chân lư, nên con người có thể nắm bắt, đón nhận và truyền đạt giá trị phong phú của nó. Thật vậy, chân lư là LOGOS – LỜI, Lời tạo nên DIA-LOGOS –ĐỐI THOẠI và do đó, kiến tạo truyền thông và hiệp thông. Khi giúp con người thoát khỏi những ư kiến và ấn tượng chủ quan, chân lư giúp họ có khả năng vượt lên trên những giới hạn văn hóa và lịch sử , giúp nhau xác định giá trị và bản chất của mọi vật. Chân lư khai mở và kết hợp tâm trí của chúng ta với LOGOS của t́nh yêu: đó là sứ điệp và chứng tá của t́nh yêu Kitô giáo. Trong môi trường văn hóa xă hội  hiện hành có xu hướng tương đối hóa chân lư, việc sống bác ái trong chân lư giúp người ta hiểu rằng việc gắn bó với các giá trị Kitô giáo không những hữu ích, nhưng c̣n là một yếu tố tất yếu để xây dựng một xă hội tốt đẹp và giúp phát triển con người cách toàn vẹn và đích thực. Một thứ Kitô giáo chủ trương bác ái mà không có chân lư sẽ dễ dàng bị lẫn lộn với một mớ t́nh cảm tốt đẹp, tuy hữu ích cho sự gắn kết về mặt xă hội, nhưng không có tác động bao nhiêu. Nói cách khác, sẽ không c̣n vị trí đích thực nào cho Thiên Chúa trong thế giới. Nếu không có chân lư, bác ái bị dồn vào những liên hệ hạn hẹp và cá nhân. Trong sự trao đổi giữa nhận thức và thực hành, bác ái bị loại khỏi những dự án và tiến tŕnh thúc đẩy sự phát triển con người trong chiều kích phổ quát.

 

5.         CARITAS (Bác ái) là t́nh yêu được đón nhận và trao ban. Bác ái là CHÁRIS – ÂN SỦNG. Nguồn gốc của bác ái là t́nh yêu vô thủy vô chung của Thiên Chúa Cha ban cho Chúa Con trong Chúa Thánh Thần. Bác ái là t́nh yêu, từ Chúa Con tuôn trào đến chúng ta. Bác ái là t́nh yêu sáng tạo, từ t́nh yêu này chúng ta mới nhận được sự hiện hữu của ḿnh; bác ái là t́nh yêu cứu độ, nhờ t́nh yêu này chúng ta mới được tái sinh. Đó chính là t́nh yêu được Đức Kitô mạc khải và hiện thực (Ga13,1) “tuôn đổ vào trong tâm hồn chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần” (Rm 5,5). Là đối tượng t́nh yêu của Thiên Chúa, con người được đặt làm chủ thể của bác ái, được kêu gọi trở thành khí cụ của ân sủng để truyền đạt bác ái của Thiên Chúa, kiến tạo những mạng lưới bác ái.

Giáo huấn xă hội  của Giáo hội  đáp ứng cho tính năng động này của bác ái được đón nhận và trao ban. Giáo huấn đó là CARITAS IN VERITATE IN RE SOCIALI: loan báo chân lư (về) t́nh yêu của Đức Kitô trong xă hội. Giáo huấn này là một sự phục vụ cho bác ái, nhưng cứ điểm của giáo huấn là chân lư. Chân lư duy tŕ và biểu lộ sức mạnh giải phóng của bác ái trong những biến cố không ngừng thay đổi của lịch sử. Chân lư vừa là chân lư của đức tin vừa là chân lư của lư trí, cả hai b́nh diện nhận thức này vừa phân biệt với nhau vừa gặp gỡ nhau.. Chân lư này cần thiết cho sự phát triển, cho công ích xă hội  và cho sự kiếm t́m một giải pháp thỏa đáng những vấn đề kinh tế xă hội khó khăn đang đè nặng con người. Và c̣n cần thiết hơn nữa là chân lư này phải được yêu mến và minh chứng. Không có chân lư, không có sự tin tưởng và t́nh yêu đối với chân lư, sẽ không có lương tâm và trách nhiệm xă hội: hoạt động xă hội cuối cùng ra chỉ phục vụ những lợi ích riêng tư và lôgích của quyền lực, đưa đến những hậu quả phá tán xă hội, nhất là một xă hội đang trên đường tiến đến việc toàn cầu hóa và ở những thời điểm khó khăn như hiện nay.

 

6.         Caritas in Veritate là chân lư trung tâm của giáo huấn xă hội của Giáo hội. Nguyên lư ấy được thể hiện cách cụ thể qua những tiêu chuẩn hướng dẫn hành động luân lư. Trong những tiêu chuẩn đó, tôi muốn quan tâm đặc biệt đến hai tiêu chuẩn có ư nghĩa đặc biệt đối với nỗ lực phát triển trong một xă hội ngày càng mang tính toàn cầu: CÔNG LƯ VÀ CÔNG ÍCH. 

Trước tiên là công lư. UBI SOCIETAS, IBI IUS – Ở ĐÂU CÓ XĂ HỘI Ở ĐÓ PHẢI CÓ CÔNG LƯ: mỗi xă hội xây dựng một hệ thống pháp lư riêng của ḿnh. BÁC ÁI PHẢI VƯỢT TRÊN CÔNG LƯ, v́ yêu thương là trao ban cho kẻ khác điều “thuộc về tôi”; nhưng bác ái không thể hiện hữu nếu không có công lư, là điều buộc tôi phải trao trả cho kẻ khác điều “thuộc về họ”; điều thuộc về họ căn cứ vào hữu thể và hoạt động của họ. Tôi không thể “ban tặng” cho kẻ khác điều “thuộc về tôi” mà trước tiên không trao trả lại cho họ điều thuộc về họ dựa theo công lư. Ai yêu thương anh em trong t́nh bác ái, th́ trước hết phải thực thi công lư đối với họ. Công lư không những không xa lạ với bác ái, cũng không phải là con đường thay thế hay song song với bác ái: công lư liên kết chặt chẽ với bác ái [1], công lư là yếu tố nội tại của bác ái.  Công lư là con đường đầu tiên của bác ái hay - như Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đă nói – là “tiêu chuẩn tối thiểu” của bác ái [2], một thành phần cơ bản của t́nh yêu này trong “hành động và chân lư” mà thánh Gioan tông đồ đă khuyến khích. Một mặt, bác ái đ̣i buộc công lư: nh́n nhận và tôn trọng quyền lợi hợp pháp của từng cá nhân và của các dân tộc. Bác ái cố gắng xây dựng “đô thị trần gian” theo luật pháp và công lư. Mặt khác, bác ái vượt trên công bằng và đưa công bằng đến chỗ hoàn thiện trong lôgích của trao ban và tha thứ [3]. “Đô thị trần gian” được phát triển không chỉ đơn thuần nhờ những tương quan quyền lợi và nghĩa vụ, nhưng ở mức độ rộng lớn và nền tảng hơn, c̣n nhờ những tương quan vô vị lợi, nhân từ và hiệp thông. Cũng thế, bác ái luôn biểu lộ t́nh yêu của Thiên Chúa trong những tương quan nhân loại, bác ái mang lại giá trị thần học và cứu độ cho mọi dấn thân phục vụ công bằng trên thế giới.

 

7.         Tiếp đến, phải đặt mối quan tâm đặc biệt khác cho công ích. Yêu một người nào đó có nghĩa là phải chú ư đến lợi ích của người đó và cố gắng để thực hiện được. Bên cạnh lợi ích cá nhân c̣n có một lợi ích gắn bó với đời sống con người trong xă hội: đó là công ích. Đó là lợi ích của “chúng ta tất cả”, từ từng cá nhân, gia đ́nh và những nhóm nhỏ, tạo thành một cộng đoàn xă hội [4]. Đó không phải là lợi ích chỉ được dành cho cá nhân ḿnh, nhưng cho những con người liên hệ với nhau trong một cộng đồng xă hội, và chỉ trong cộng đồng này họ mới có thể đạt được lợi ích thực sự và có hiệu quả. Khao khát và nỗ lực vươn tới công ích là đ̣i hỏi của công lư và bác ái.. Dấn thân cho công ích có nghĩa là, một mặt bảo vệ và mặt khác phục vụ cho toàn bộ các cơ chế qui định đời sống xă hội  về mặt pháp lư, dân sự, chính trị và văn hóa, với cách thức này đời sống xă hội trở thành POLIS (thành phố). Chúng ta càng nỗ lực bảo đảm công ích cho phù hợp với những nhu cầu đích thực của tha nhân, th́ chúng ta càng yêu thương họ cách hiệu quả. Mỗi Kitô hữu đều được gọi để thực hành đức bác ái này theo cách thế phù hợp với ơn gọi của ḿnh và theo mức độ ảnh hưởng ḿnh có trong polis. Đó là con đường mang tính cơ chế – người ta cũng có thể nói mang tính chính trị – của bác ái, con đường tuyệt hảo và hiệu quả không thua kém ǵ h́nh thức bái ái khi trực tiếp gặp gỡ tha nhân, bên ngoài trung gian cơ chế của polis. Sự dấn thân cho công ích do bác ái tác động, sẽ có một giá trị cao hơn sự dấn thân thuần túy thế tục và chính trị. Cũng như mọi dấn thân cho công lư, công ích có một vị trí trong chứng tá của đức ái, dọn đường cho thành đô vĩnh cữu qua những hoạt động trần thế. Khi hoạt động của con người trên trái đất được bác ái gợi hứng và nâng đỡ, hoạt động ấy sẽ mang tính chất xây dựng cho Nước phổ quát của Thiên Chúa, mà gia đ́nh nhân loại đang hướng tới như điểm đến của lịch sử. Trong một xă hội ngày càng mang tính toàn cầu, công ích và sự dấn thân cho công ích phải mang những chiều kích của toàn thể gia đ́nh nhân loại, nghĩa là cộng đồng các dân tộc và quốc gia [5], để xây dựng đô thị trần gian theo hướng hiệp nhất và ḥa b́nh - và một cách nào đó - tạo những tiền đề cho thành đô không bị chia cắt của Thiên Chúa.

 

8.         Khi công bố thông điệp POPULORUM  PROGRESSIO vào năm 1967, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi là Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đă soi sáng đề tài lớn về việc phát triển các dân tộc dưới ánh quang chân lư và ánh sáng t́nh yêu của Chúa Kitô. Ngài xác quyết rằng đời sống trong Chúa Kitô là yếu tố đầu tiên và chính yếu của phát triển [6] và khuyến khích chúng ta tiến bước trên con đường phát triển này với con tim và lư trí của chúng ta [7], có nghĩa là với nhiệt t́nh của bác ái và sự khôn ngoan của chân lư. Đây là chân lư nguyên thủy của t́nh yêu Thiên Chúa, một ân sủng được ban tặng cho chúng ta, giúp đời sống của chúng ta mở ra để đón nhận ân huệ và có khả năng giúp hy vọng của chúng ta trở thành hiện thực, một hy vọng vào việc phát triển con người toàn diện và nhân loại toàn diện [8] tiến từ những điều kiện ít nhân bản đến những điều kiện nhiều tính nhân bản hơn [9] khi chiến thắng mọi khó khăn không thể tránh được trên đường đi. 

Bốn mươi năm sau ngày công bố thông điệp, tôi muốn nhắc nhớ đến vị giáo hoàng vĩ đại Phaolô VI và tôn vinh ngài, khi lấy lại những giáo huấn về việc phát triển con người toàn diện và dơi theo con đường đă được vạch ra để áp dụng cho hoàn cảnh ngày hôm nay. Tiến tŕnh hiện tại hóa này đă bắt đầu với thông điệp SOLLICITUDO REI  SOCIALIS, qua thông điệp này, tôi tớ Chúa là Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II muốn kỷ niệm hai mươi năm ngày công bố thông điệp Populorum progressio. Cho đến lúc đó Hội Thánh chỉ kỷ niệm thông điệp RERUM NOVARUM mà thôi. Hai mươi năm sau, tôi xác tín rằng thông điệp Populorum progressio xứng đáng được xem  như thông điệp Rerum novarum của thời đại chúng ta, soi sáng con đường nhân loại đi đến hiệp nhất.   

 

9.         Bác ái trong chân lư- CARITAS IN VERITATE – là một thách thức lớn cho Hội Thánh trong một thế giới trên đường toàn cầu hóa đang phát triển và phổ biến. Nguy cơ của thời đại chúng ta là sự tương thuộc đương nhiên (de facto) giữa các dân tộc và các quốc gia lại không đi đôi với sự tương tác về mặt đạo đức của lương tri, từ đó không thể đưa đến một sự phát triển nhân bản đích thực như kết quả. Chỉ trong bác ái được ánh sáng lư trí và đức tin soi sáng,  chúng ta mới có thể đạt được những mục tiêu phát triển mang những giá trị nhân văn và nhân hóa. Việc chia sẻ của cải và tài nguyên, từ đó có thể đưa đến một sự phát triển đích thực, không thể chỉ đơn thuần do những bước tiến kỹ thuật hay những tương quan lợi nhuận, nhưng do sức mạnh của t́nh yêu chiến thắng điều ác bằng điều thiện (Rm 12,21), mở ra con đường hướng tới sự tương hỗ của lương tâm và tự do. 

Giáo hội không đưa ra những giải pháp kỹ thuật [10] và cũng không đ̣i hỏi “nhúng tay vào chính trị của Nhà Nước bằng bất cứ cách nào” [11]. Dù vậy, Giáo hội phải chu toàn trong mọi thời gian và mọi hoàn cảnh sứ mạng phục vụ chân lư nhằm xây dựng một xă hội  xứng với con người, với phẩm giá và ơn gọi của họ. Không có chân lư, con người sẽ rơi vào một nhân sinh quan mang tính thường nghiệm và hoài nghi, không đủ khả năng vượt lên trên b́nh diện thực tiễn do thiếu quan tâm đến việc nắm bắt các giá trị – đôi khi cả những ư nghĩa của sự vật – là những điều giúp con người phán đoán và điều hướng cuộc sống. Sự trung thành đối với con người đ̣i buộc sự trung thành với chân lư, v́ chỉ có chân lư là điều bảo đảm cho tự do (Ga 8,32) và khả năng phát triển con người toàn diện. Chính v́ thế, Giáo hội t́m kiếm chân lư, rao giảng không mệt mỏi và nh́n nhận chân lư bất cứ nơi nào nó biểu lộ. Sứ mạng phục vụ chân lư này đối với Giáo hội là sứ vụ Giáo hội không bao giờ được khước từ. Giáo huấn xă hội của Giáo hội là một phương diện đặc biệt của việc rao giảng này: đó là một sự phục vụ chân lư giải phóng. Mở rộng ra để đón nhận chân lư, dù chân lư này từ đâu đến, giáo huấn xă hội của Giáo hội đón nhận chân lư ấy, thu nhận những mảnh vụn thường bị phân tán vào trong một tổng thể và đưa chân lư ấy vào trong thực tiễn cuộc sống không ngừng thay đổi của các dân tộc và các quốc gia [12].

 

  1. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI , Thông điệp Populorum progressio (26.3.1967, 22: AAS 59 (1967), 268; Công đồng Vaticanô II , Gaudium et Spes, 69.
  2. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Giáo huấn nhân ngày Phát triển, Bogota 923.8.1968): AAS 60 (1968), 626-627.
  3. Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II , sứ điệp ngày quốc tế cầu nguyện cho ḥa b́nh  2002: AAS 94 (2002), 132-140.
  4. Công đồng Vaticanô II, Gaudium et spes, số 26.
  5. Đức giáo hoàng Gioan XXIII, Thông điệp Pacem in terris (11.4.1963): AAS (1963), 268-270
  6. như trên, số 16
  7. như trên, 82
  8. như trên, số 42
  9. như trên ,số 20
  10. Công đồng Vaticanô II , Gaudium et spes, số 36; Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, tông thư  Octagesima adveniens (14.5.19710,4: AAS 63 (1971), 403-404; Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II,  Thông điệp  Centesimus annus (1.5. 1991), 43: AAS 83 (1991), 847.
  11. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum progressio (26.3.1967), số 13.
  12. Uỷ ban Công lư và Ḥa b́nh, Toát yếu chủ thuyết xă hội của Giáo hội, số 76.