TÓM LƯỢC BIẾN CỐ ĐỨC MẸ HIỆN RA



Linh Địa Lavang nằm trong khu vực Giáo Xứ Dinh Cát, thuộc tỉnh Quảng Trị, cách thị Quảng Trị 6 cây số cách Cố Đô Huế 58 cây số.

1. GIÁO XỨ DINH CÁT

Theo lịch sử th́ Dinh Cát miền đất thuộc dân tộc Chàm. Nhưng đến năm 1307 vua Chàm cắt vùng đất từ sông Đông qua đèo Hải Vân dâng cho nhà Trần để làm sính lễ cưới Huyền Trân Công Chúa. Vùng đất nhượng quyền này được nhà Trần chia thành 2 châu (Châu Thuận Châu Hoà). Dinh Cát thuộc Châu Thuận được đặt làm thị trấn gọi Thuận Thành rất trù phú đông đúc. Trải qua 68 năm Nhà Nguyễn Hoàng đóng dinh tại đây (1558-1626), khiến Cát Dinh đă thành nơi mậu dịch rất sầm uất với người ngoại quốc.

Vị Linh Mục đầu tiên đặt chân lên xứ Dinh Cát vào năm 1595 cha Diego Aduarte Ḍng Đaminh. Sau cha Phanxicô Buzomi từ Áo Môn (Trung Hoa) sang được phép giảng đạo từ Quảng Nam tới Phú Yên. Rồi đến các cha khác tiếp nối. Măi đến 1689 cha Lorenso Lân mới chính thức cha sở đầu tiên của xứ Dinh Cát. Sau 24 năm phát triển (1693-1717) th́ đến thời (Chúa Minh Vương) bách hại, nhiều người chết đức tin. Tiếp đến những cuộc tranh chiến kế tiếp suốt 37 năm (1765-1802) đă khiến trăm họ lầm than, đến ḷng trời cũng phải xúc động. Mẹ Chúa đă hiện ra tại Lavang, để an ủi kẻ âu lo, cứu giúp con cái lầm than của Mẹ.

2. PHƯỜNG LAVANG

Vào thế kỷ XV, xứ Dinh Cát gồm 2 Huyện, 134 , 9 thôn nhiều Phường. Làng Cổ Vưu một Họ Đạo lâu đời thuộc Xứ Dinh Cát, được thành lập vào thế kỷ 17, đời nhà quản thu đời Gia Long (Theo sử liệu cha Lorense Lân viết lại ngày 17.2.1791). Dân làng phải đi rừng sâu tới 7 cây số để phá rẫy trồng khoai, cấy lúa. Trong làng Cổ Vưu phường Vắng ( trong vùng nhiều cây tên Vắng, hột đen ăn được cây lại một vị thuốc, nên dân trong vùng dùng sắc lên uống chữa bệnh, do đó dân vùng lấy tên cây đặt cho phường như trong địa bộ. Về sau người ta đọc trại ra Lavang như ngày nay). Vậy chiếu theo địa bộ đời nhà , Lavang đă được thành lập trên 200 năm. Cũng theo những lời truyền miệng của tiền nhân th́ cách đây hơn 200 năm, dưới đời vua Cảnh Thịnh (tức Nguyễn Quang Toản) một biến cố hăi hùng do cuộc cấm đạo chiến tranh đă khiến cho dân chúng xung quanh Dinh Cát phải chạy vào Lavang để lánh nạn.

3. ĐỨC MẸ HIỆN RA

Trong lúc lánh nạn, họ thường tụ họp nhau mỗi tối để cầu nguyện, lần hạt. Bỗng nhiên họ thấy một đẹp mặc áo choàng hiện ra gần cây đa cổ thụ, họ nhận biết Đức Mẹ bồng Chúa Hài Đồng 2 Thiên Thần cầm đèn chầu. Đức Mẹ ngỏ lời an ủi dạy họ bẻ cây xung quanh đó nấu nước uống th́ sẽ được lành bệnh. Đức Mẹ c̣n hứa từ nay về sau những ai đến đây cầu khẩn Mẹ, th́ Mẹ sẽ ban ơn phù trợ. Đức Mẹ c̣n hiện ra với họ nhiều lần khác nữa. Theo sách Văn Lavang kể rằng:

Trời sinh cái chốn lạ lùng,

Tự nhiên giữa núi nên cung Chúa .

Truyền rằng một cây đa,

Mọc trên núi nọ gọi là Lavang.

Ngày th́ hạc phụng dạo chơi,

Đêm th́ hổ báo chầu nơi linh hoàng.

Chốn này linh ứng nghiêm trang,

Hai bên khe ruộng giữa làng Lavang....

Điều đáng tiếc là không ai biết được Đức Mẹ hiện ra chính xác vào năm nào, nhưng theo tục truyền th́ Đức Mẹ hiện ra vào lúc nước nhà đang xảy ra những cuộc nội chiến thật bi đát và lầm than (1765-1802).

Nhưng theo sử liệu định mức sự đen tối nhất là thời Vua Cảnh Thịnh (Nhà Tây Sơn) bắt đạo. Lư do là sau khi vua Quang Trung mất (9/1792), Nguyễn Quang Toản mới 13 tuổi lên ngôi, lấy hiệu là Cảnh Thịnh, nên mọi việc do các quân thần nhiếp chính. Sau khi bắt được lá thư của Nguyễn Ánh gửi cho Đức Cha Labartelle xin giúp đỡ, vua Cảnh Thịnh sinh ghét Đạo Công Giáo và ra sắc dụ cấm đạo từ Phú xuân ra Bắc (8/1798). Lại cho lính đi lùng bắt các vị Thừa Sai Pháp đă đứng ra giúp Chúa Nguyễn Ánh. Nhiều người Công Giáo thuộc vùng Cổ Vưu, Thạch Hăn... chạy vào lánh nạn tại phường La Vang, giữa vùng núi rừng hiểm trở. Trong lúc lánh nạn ở đây, ban đêm họ họp nhau cầu nguyện và lần hạt Mân Côi. Thấy cảnh khổ của họ, Đức Mẹ thương hiện ra để an ủi các con cái Mẹ đang bị bách hại.

Đời các vua kế tiếp như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức cũng đều ra những sắc dụ cấm đạo cách ráo riết. Điều đáng tiếc là các bút tích lịch sử về biến cố lạ thường xẩy ra tại Lavang do Đức Cha Labartelle để lại cùng với văn khố của Địa Phận B́nh Trị Thiên đều bị thiêu đốt đến 2 lần. Ngay cả đến các sách vở, tài liệu của Đức Cha Sohiu B́nh (1861) được chôn dấu tại Huế cũng bị đào lên và đốt hết, nên không c̣n bút tích nào để lại. Sau này các giáo hữu được thấy Đức Mẹ hiện ra cũng chỉ biết kể lại với những người quen thân cḥm xóm. Và rồi từ miệng người này qua người khác, sự tích Đức Mẹ Lavang được biến thành một lời truyền tụng không sức nào có thể dập tắt được.