Đức Mẹ La Salette

 

Fr. William P. Saunders

Herald Columnist (issue 5/11/06)

 

Cuối tuần qua, Tôi đă tham dự lễ kim khánh linh mục của cha Joseph Loftus. Tôi được hay rằng ngài thuộc về ḍng Turyền Giáo La Salette.  Vậy câu chuyện về Mẹ La Salette ra sao? Một đọc giả tại Arlington.

 

Vào trưa thứ bẩy ngày 19/9/1846, 2 trẻ nhỏ – Maximin Guiraud (11 tuổi) và Melanie Calvat (14 tuổi) – đang chăn cừu cho người chủ gần La Salette trên rặng núi Alps bên Pháp quốc. Những ảnh hưởng của cách mạng Pháp đă làm khủng hoảng Giáo hội, máu đổ trong suốt thời vua Napôleon,  sự phi tôn giáo lớn mạnh trong những quan điểm xă hội và sự rối loạn chính trị bành trướng bao trùm Âu châu đă làm lũng đoạn hệ trọng với đức tin của người ta. Trong xứ đạo La Salette, ngày càng ít người tham dự Thánh lễ và các bí tích đă bị lăng quên. Chửi thề đă thay chỗ cho những kinh nguyện,; sự dâm đăng thay cho sự trong sạch; tham lam thay v́ độ lượng …

 

Melanie, một trong tám đứa con trong một gia đ́nh nghèo và cô bắt đầu giúp gia đ́nh kiếm sống vào lúc 7 tuổi. Cô không được tới trường, chỉ biết chút ít về Giáo lư, rất ít khi tham dự Thánh lễ, và cũng không có thể đọc kinh Lạy Cha và Kính Mừng một cách trôi chảy. Cùng hoàn cảnh, Maximin, mẹ mất sớm và không thích mẹ ghẻ cho lắm, có rất ít hiểu biết về đạo và không được cắp sách tới trường.

 

Trong khi chăn cừu, các em nh́n thấy một luồng sáng, sáng hơn cả mặt trời. Khi các em tiến tới gần, các em thấy một Bà tuyệt đẹp ngồi trên một tảng đá và đang khóc, với mặt úp vào đôi bàn tay. Trong ḍng lệ, Bà đứng dậy và nói với các em bằng thổ ngữ Pháp. Bà mặc một chiếc khăn chùm đầu trên đỉnh kèm một vương niệm sáng chói với một ṿng hoa hồng chung quanh, áo Bà tỏa ra một luồng sáng và đôi hài trang điểm hoa hồng. Chung quanh cổ, Bà đeo một tượng chịu nạn bằng vàng: một bên ngang thánh giá treo một chiếc búa và những cây đinh, và phía bên kia, treo một cái kẹp. Trên vai Bà là một sợi xích nặng.

 

Bà nói, “Tới đây với Ta, các con, đừng sợ. Ta tới đây để nói tới một vài điều rất hệ trọng.” Bà nói tiếp, “Nếu các con cái Tạ không vâng phục, Ta sẽ bị buộc phải buông thả cánh tay của Con Ta. Nó th́ quá nặng rồi, quá thúc ép mà Ta không c̣n có thể ngăn cản được nó nữa. Bao lâu nữa Ta c̣n phải đau khổ cho các con! Nếu Con Ta sẽ không từ bỏ các con, Ta bắt buộc phải khẩn nài Ngài không ngừng. Nhưng các con không để ư chi cả về chuyện đó. Bất kể các con cầu xin tha thiết thế nào trong tương lai, bất kể các con hành động tốt thế nào, các con sẽ chẳng bao giờ có thể đền đáp Ta đủ với những ǵ Ta đang chịu đựng cho lợi ích của các con.

 

 “Ta đă chỉ định các con 6 ngày làm việc. Ngày thứ bẩy Ta dành riêng cho chính Ta. Và không ai dành nó cho Ta. Điều này đă gây ra sức nặng trên cánh tay của Con Ta để rồi bị dập nát ra. Những người lái xe ngựa chở hàng không có thể chửi thề mà không mang danh thánh của Con Ta vào. Đây là 2 điều mà đă làm đôi tay Con Ta quá nặng nề.

“Nếu mùa thu hoạch bị hư thối, đó là lỗi bởi các con. Ta đă cảnh báo các con năm ngoái qua vụ thu hoạch khoai tây. Các con đă không chú ư tới. Hoàn toàn ngược lại, khi các con khám phá ra khoai tây đă bị hư thối, các con chửi thề, lạm dụng danh thánh của Con Ta (mà chửi thề). Vụ khoai tây sẽ tiếp tục hư thối, và vào mùa Giáng sinh năm nay sẽ không c̣n củ nào cả.

 

Nếu các con có hạt lúa ḿ, nó sẽ không c̣n tốt để gieo văi, bởi v́ những ǵ các con gieo văi những thú vật sẽ ăn hết, và bất cứ những hạt nào sinh hoa trái sẽ dập nát thành bụi đất khi các con đập lúa.

 

Một nạn đói kém sẽ tới. Nhưng trước khi chuyện đó xảy ra, các em nhỏ dưới 7 tuổi sẽ bị động kinh run rẩy và bị chết trong cánh tay của những người ôm các em. Những người khác sẽ trả giá chotội lỗi của họ bằng sự chết đói. Nho sẽ bị thối và các loại đậu sẽ bị sâu ăn hết.

 

Thật là một thông điệp nghiêm chỉnh. Rồi Đức Mẹ nói, “Nếu các con Mẹ hoán cải, những ḥn đá sẽ trở lên những đồi lúa ḿ và sẽ t́m thấy những luống khoai tây được tự  đâm trồi nẩy lộc.” Rồi Mẹ hỏi các em, “Các con có cầu nguyện sốt sắng không?”  “Thưa không ạ, chúng con hầu như không cầu nguyện chi cả,” các em nói lầm bầm. “Ồ, các con ơi, điều rất quan trọng là cầu nguyện, lúc ban tối và vào buổi ban mai. Khi các con không có nhiều giờ, ít nhất hăy đọc một kinh Lậy Cha và một kinh Kính Mừng. Và khi có thể, các con đọc nhiều hơn.”

 

Đức Mẹ quay lại tới tội phạm của con người: “Chỉ một vài bà cụ lớn tuổi tham dự Thánh lễ vào mùa hè. C̣n những người khác đi làm mỗi Chúa nhật suốt mùa hè. Và vào mùa đông, khi họ không biết làm ǵ cả, họ đi tham dự  Thánh lễ chỉ để chọc cười đạo giáo. Trong suốt mùa Chay họ ùn ùn tới các tiệm bán thịt, như những con khuyển.” Mẹ kết thúc bằng lời, “Các con Me, các con hăy rao truyền những thông điệp này tới các con cái của Me.” Rồi Mẹ rời khỏi, đi lên một lối dốc, và biến đi trong một tia sáng chói.

 

Các em lập lại câu chuyện tới mỗi người chủ của các em. Khi người ta biết chắc rằng những câu chuyện ăn khớp với nhau, và nhiều người đạo hạnh kết luận rằng đây là một cuộc hiện ra của Đức Trinh Nữ Maria, các em được phái tới cha chánh xứ La Salette. Vị linh mục tường thuật lại câu chuyện của các em tại Thánh lễ. Các nhân viên chính quyền bắt đầu cuộc điều tra và các em duy tŕ câu chuyện của ḿnh bất kể những đe dọa cho vào tù. Khi kiểm tra nơi hiện ra, vài người đă đập vỡ một mảnh của tảng đá Mẹ đă ngồi lên; một ḍng suối nước chảy ra trong một nơi mà khô cằn quanh năm chỉ trừ khi tuyết chảy ta. Suối nước chảy đều đặn và dư đầy. Nước đă được lấy cho một phụ nữ đau khổ đă lâu v́ cơn bệnh trầm kha; bà ta uống một chút nước mỗi ngày và làm tuần cửu nhật, và trong ngày thứ chín, bà đă được chữa lành bệnh.

 

Sự khỏi bệnh này được đệ tŕnh lên Đức giám mục Bruillard của giáo phận Grenoble, ngài bắt đầu một cuộc điều tra toàn diện về cuộc hiện ra. Trong khi chờ đợi, nhiều phép lạ lành bệnh đă xảy ra. Phép lạ lớn nhất chính là phần tinh thần: giáo dân trung thành tham gia Thánh lễ và xưng tội thường xuyên. Họ ngừng không làm việc ngày Chúa nhật nữa và họ quay trở lại để sống một đời sống đạo hạnh và sốt mến. Khách hành hương tuôn tới thánh địa ngày càng đông. Năm năm sau đó, vào ngày 19/9/1851, Đức giám mục Bruillard xác quyết rằng cuộc hiện ra “mang trong chính nó tất cả những dấu chứng sự thật và những tín hữu đựoc bầu chữa trong sự tin tưởng vào nó là điều chắc chắn và không thể nghi ngờ được.” Một sự cải hoán đă xảy ra.

 

Ngay năm sau, một ḍng tu đă được sáng lập, Ḍng truyền giáo La Salette. Rồi Đức giám mục Bruillard đặt viên đá đầu tiên cho ngôi đại thánh đướng mới. Khách hành hương tới thánh địa nơi Mẹ hiện ra tăng dần, và Đức Mẹ được phong tước hiệu là “Đấng Cam Chịu cho kẻ có tội.” Những vị đại thánh đă được hiến dâng tới Mẹ La Salette, gồm thánh Gioan Bosco, Gioan Vianey và thánh Mai-đệ-liên thành Sophie Barat.

 

Khi chúng ta suy tới cuộc hiện ra này, thông điệp của Mẹ th́ đúng với thời nay cũng như  thời trước: Bao nhiêu người đă bỏ Thánh lễ Chúa nhật để lấy giờ đọc báo, coi thể thao hoặc đi mua sắm đồ? Bao nhiêu người bỏ xưng tội lâu năm? Bao nhiêu người đă kêu tên Chúa vô cớ để chửi thề? Bao nhiêu người đă bỏ cầu nguyện hàng ngày? Bao nhiêu người hoan nghênh tới những sự xúc phạm thánh như  phim “Mật mă Da Vinci”? Thật vậy, thông điệp Mẹ vẫn c̣n vang vọng. Thế giới và mỗi người trong chúng ta cần  tới sự hoán cải. Chúng ta hăy chạy tới Đức Mẹ La Salette và dâng lên Mẹ lời cầu xin:

.

Xin hăy nhớ, Mẹ La Salette của chúng con, Mẹ là người Mẹ thực Đau khổ, những ḍng nước mắt Mẹ chảy ra cho chúng con trên đồi Canvê. Xin Mẹ cũng hăy nhớ những sự ân cần Mẹ đă làm để giữ chúng con tin vào Chúa Giêsu, Con Mẹ. Mẹ đă làm quá nhiều điều cho các con Mẹ, bây giờ Mẹ sẽ không từ bỏ chúng con. Được an ủi qua những lời ủi an, chúng con chạy tới Mẹ để cầu xin, mặc dầu sự bội tín và vô ơn của chúng con. Lậy Đức Trinh Nữ  Giải Ḥa, xin đừng từ chối lời chúng con khấn nguyện, nhưng xin cầu bầu cho chúng con, xin ban cho chúng con hồng ân để yêu Chúa Giêsu trên hết mọi sự. Xin cho chúng con an ủi Mẹ bằng một đời sống thánh thiện và rồi đến để chia sẻ đời sống vĩnh cửu Chúa Kitô qua Thập giá của Ngài. Amen.

 

Hà-Huyền dịch từ mạng: http://www.catholicherald.com/saunders/06ws/ws060511.htm

 

(June 10, 2008)