CHƯƠNG  I: SỨ ĐIỆP CỦA POPULORUM PROGRESSIO

 

10.       Populorum Progression đă ra đời trên bốn mươi năm, việc đọc lại thông điệp này mời gọi chúng ta phải trung thành với sứ điệp bác ái và sự thật hàm chứa trong đó, đặt thông điệp này trong toàn bộ giáo huấn đặc biệt của Đức Phaolô VI, và tổng quát hơn, trong truyền thống của giáo huấn Giáo hội về xă hội.. Hơn nữa, phải lượng giá các điều kiện khác mà vấn đề phát triển ngày nay phải chạm trán so với 40 năm về trước. Quan điểm đúng đắn là quan điểm của truyền thống đức tin của các Tông đồ [13], là gia sản vừa cũ vừa mới, tách khỏi gia sản này thông điệp Populorum progressio sẽ là một tài liệu mất gốc và những vấn đề liên quan đến phát triển bị giản lược thành những dữ kiện xă hội học đơn thuần.

 

11.       Thông điệp Populorum progressio – Phát triển các dân tộc - được công bố ngay sau khi bế mạc Công đồng Vaticanô II. Ngay trong những đoạn đầu, Thông điệp xác nhận liên hệ chặt chẽ với Công đồng [14]. Hai mươi năm sau, trong thông điệp SOLLICITUDO REI  SOCIALIS – ƯU TƯ VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ XĂ HỘI –  Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đến phiên ḿnh, nhấn mạnh liên hệ phong phú của thông điệp này với Công Đồng, đặc biệt với Hiến Chế Mục Vụ GAUDIUM ET SPES [15]. Ở đây cả tôi cũng muốn nhắc đến tầm quan trọng của Công đồng Vaticanô II đối với thông điệp của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và với huấn quyền tiếp nối của các Đức Giáo Hoàng sau này trong vấn đề xă hội. Công đồng đă đào sâu điều vốn vẫn thuộc về chân lư đức tin, tức là Giáo hội, khi phục vụ Thiên Chúa, cũng phục vụ thế giới dựa theo những tiêu chuẩn t́nh yêu và chân lư. Chính từ nhăn quan này, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đă khai triển để chia sẻ với chúng ta hai chân lư quan trọng. Chân lư đầu tiên là toàn thể Giáo hội, khi rao giảng, cử hành Bí tích Thánh Thể và hoạt động trong bác ái, trong toàn thể bản chất và hoạt động của ḿnh, phải nhằm vào việc thúc đẩy sự phát triển toàn vẹn con người. Giáo hội có một vai tṛ trong đời sống công cộng, vượt trên những hoạt động giáo dục và bác ái: mọi năng lực Giáo hội đem đến cho sự tiến bộ của nhân loại và t́nh huynh đệ phổ quát được biểu lộ khi Giáo hội có thể hoạt động trong bầu khí tự do. Trong nhiều trường hợp, tự do này bị ngăn cản do luật lệ cấm cản và bách hại hay bị hạn hẹp, khi sự hiện diện công khai của Giáo hội bị giới hạn chỉ trong những công tác bác ái. Chân lư thứ hai là, sự phát triển đích thực của con người phải quan tâm đến sự toàn diện con người trong mọi chiều kích [16]. Nếu không có tầm nh́n vào đời sống vĩnh cửu, sự phát triển con người sẽ thiếu vắng sức sống trong thế giới này. Nếu sự phát triển này chỉ hạn hẹp vào trong thế giới này mà thôi, sẽ gặp nguy cơ là chỉ chú tâm vào việc gia tăng của cải; như thế nhân loại sẽ mất đi sự can đảm để sẵn sàng đón nhận những điều thiện hảo cao trọng hơn, để thực hiện những công tác lớn lao, vô vị lợi mà bác ái phổ quát thúc đẩy. Con người không thể tự sức ḿnh để phát triển bản thân, cũng không phải do bên ngoài đưa đến sự phát triển này. Trong ḍng lịch sử, người ta thường nghĩ rằng việc tạo ra các cơ chế là đủ để bảo đảm cho nhân loại thỏa măn quyền phát triển. Tiếc thay người ta đă đặt tin tưởng quá đáng vào các cơ chế này, làm như các cơ chế này sẽ tự động đưa đến thành quả mong ước. Trong thực tế, các cơ chế này tự chúng không đủ, v́ sự phát triển toàn vẹn con người trước tiên là một ơn gọi và đ̣i hỏi mọi người phải nhận trách nhiệm của ḿnh cách tự do và liên đới. Ngoài ra, một sự phát triển như thế đ̣i buộc phải có một cái nh́n siêu nhiên về con người, cần có Thiên Chúa: không có Thiên Chúa, sự phát triển hoặc sẽ bị phủ nhận hoặc được trao phó cách độc đoán cho con người với ư nghĩ sai lầm rằng con người có thể cứu độ chính ḿnh, cuối cùng ra lại chỉ cổ vơ một h́nh thái phát triển phi nhân. Mặt khác, chỉ qua sự gặp gỡ Thiên Chúa, chúng ta mới có thể thấy được nơi tha nhân điều ǵ đó lớn hơn một thụ tạo b́nh thường, tức là nhận ra h́nh ảnh Thiên Chúa nơi người khác [17) và như thế mới có thể thực sự khám phá người khác và triển khai t́nh yêu, một t́nh yêu “chăm sóc kẻ khác v́ kẻ khác”[18]. 

 

12.       Mối liên kết giữa thông điệp Populorum Progressio và Công đồng Vaticanô II không có nghĩa là giáo huấn xă hội của Đức Phaolô VI đứt đoạn với giáo huấn của các vị giáo hoàng trước, v́ Công Đồng đào sâu giáo huấn này trong tính liên tục của đời sống Gíao Hội [19]. Theo nghĩa này, một số phân chia trừu tượng trong giáo huấn xă hội của Giáo hội đă không góp phần làm rơ các vấn đề, v́ những phân chia này áp dụng vào giáo huấn xă hội của các giáo hoàng những tiêu chuẩn xa lạ. Không thể có hai loại giáo huấn xă hội khác nhau, một trước Công Đồng và một sau Công Đồng, nhưng chỉ có một giáo huấn duy nhất, liên kết chặt chẽ và luôn luôn mới [20]. Thật vậy, phải chú ư đến những điểm đặc biệt của thông điệp này với thông điệp khác, giáo huấn của vị giáo hoàng với vị giáo hoàng khác, nhưng không bao giờ rời mắt khỏi sự liên kết chặt chẽ của toàn thể Corpus - Tổng thư  của giáo huấn [21]. Sự liên kết chặt chẽ không có nghĩa là đúc kết vào một hệ thống, nhưng đúng hơn là sự trung tín năng động với ánh sáng đă được đón nhận. Giáo huấn xă hội của Giáo hội soi sáng các vấn đề luôn luôn mới xuất hiện bằng một ánh sáng không bao giờ thay đổi [22]. Điều này bảo vệ đặc tính liên tục và lịch sử của gia sản giáo thuyết, vốn là thành phần của Truyền thống sống động trong Giáo hội [24]. Giáo huấn xă hội  của Giáo hội được xây dựng trên nền tảng được các Tông đồ truyền đạt cho các giáo phụ và được các tiến sĩ nổi tiếng của Hội Thánh tiếp nhận và đào sâu. Giáo huấn này hướng đến  Con Người mới, vị Ađam cuối cùng, “Đấng là thần khí ban sự sống” (1Cr 15,45) và là nguyên lư của đức ái “không bao giờ tàn tạ” (1Cr 13,8). Giáo huấn này được xác nhận bằng chứng tá của chư thánh và của tất cả những ai dâng hiến cuộc sống ḿnh cho Đức Kitô, Đấng Cứu độ, trong lănh vực công lư và ḥa b́nh. Trong giáo huấn này chúng ta thấy được trách nhiệm ngôn sứ của các vị giáo hoàng: hướng dẫn Giáo hội Chúa Kitô theo cách thức các tông đồ và nhận ra những đ̣i hỏi mới mẻ của việc Phúc Âm hóa. V́ những lư do này, thông điệp Populorum progressio, được trứ tác trong ḍng chảy vĩ đại của truyền thống, vẫn c̣n nhiều điều có thể nói với chúng ta.

 

13.       Ngoài việc liên hệ đầy ư nghĩa của thông điệp với toàn giáo huấn xă hội của Giáo hội, thông điệp Populorum progressio gắn kết với toàn bộ giáo huấn của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và đặc biệt với giáo huấn của ngài trong các vấn đề xă hội. Giáo huấn xă hội  này có một tầm quan trọng: nhấn mạnh vai tṛ tất yếu của Phúc Âm cho việc xây dựng xă hội  theo nghĩa tự do và công lư, trong viễn cảnh lư tưởng và lịch sử của một nền văn minh được t́nh yêu tác động. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI hiểu rơ rằng, vấn đề xă hội  đă bao trùm cả thế giới [25]; ngài nắm bắt được mối liên hệ hỗ tương giữa nỗ lực hướng đến sự hiệp nhất nhân loại và lư tưởng Kitô giáo về một gia đ́nh duy nhất bao gồm các dân tộc sống trong t́nh liên đới và huynh đệ. Ngài cho việc phát triển theo nghĩa nhân bản và Kitô giáo là trọng tâm giáo huấn xă hội  của Giáo hội  và đề nghị bác ái Kitô giáo như sức mạnh chính yếu để phục vụ cho việc phát triển. Với khao khát làm cho người đồng thời của ḿnh thấy được t́nh yêu của Chúa Kitô, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI vững vàng đối mặt với những vấn đề đạo đức, không chiều theo những yếu đuối của văn hóa thời đại. 

 

14.       Trong Tông thư  OCTAGESIMA  ADVENIENS vào năm 1971, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đề cập đến ư nghĩa của chính trị và mối nguy hiểm do những nhăn giới mang tính ảo tưởng và ư thức he, đe dọa những chiều kích đạo đức và nhân bản trong chính trị. Đây là những vấn đề liên kết chặt chẽ với sự phát triển. Tiếc rằng những ư thức hệ tai hại vẫn không ngừng nở rộ. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đă khuyến cáo về nguy hiểm to lớn của chủ trương kỹ trị, đang rất phổ biến ngày nay khi trao phó toàn bộ tiến tŕnh phát triển chỉ cho kỹ thuật mà thôi [26], v́ theo cách thức này sẽ không có định hướng cho sự phát triển. Kỹ thuật có hai mặt. Một mặt, nếu ngày nay vẫn có xu hướng hoàn toàn tin tưởng phó thác tiến tŕnh phát triển cho kỹ thuật, th́ mặt khác, người ta nhận thấy những ư thức hệ xuất hiện, phủ nhận hoàn toàn sự hữu ích của phát triển, xem sự phát triển như phi nhân bản và sẽ đưa tất cả vào sa đọa. Cuối cùng, xu hướng này kết án không những định hướng đôi khi sai lệch và bất công mà người ta gán cho phát triển, nhưng c̣n lên án cả những khám phá khoa học, lẽ ra nếu được sử dụng đúng đắn, sẽ đưa đến cơ hội phát triển cho mọi người. Quan niệm về một thế giới không có phát triển nói lên sự thiếu tin tưởng vào con người và Thiên Chúa. Đó là một sai lầm nặng nề, khi đánh giá thấp những khả năng của con người trong việc kiểm soát những lệch lạc trong phát triển, hay quên rằng con người ở tự thân luôn hướng đến một “hiện hữu phong phú hơn”. Tuyệt đối hóa phát triển kỹ thuật theo ư thức hệ hay khao khát cách ảo tưởng về một nhân loại quay trở về t́nh trạng nguyên thủy là hai cách thế tương phản nhau, nhưng đều tách biệt sự phát triển khỏi giá trị luân lư và qua đó khỏi trách nhiệm của chúng ta.

 

15.       Hai tài liệu tiếp theo của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, tuy không có mối liên hệ trực tiếp với giáo huấn xă hội  – Thông điệp HUMANAE  VITAE ngày 25.7.1968 và Tông Huấn EVANGELII NUNTIANDI  ngày 8.12.1975 – cũng rất quan trọng, v́ nói lên nội dung sự phát triển con người toàn diện theo đề nghị của Giáo hội. V́ thế cần phải đọc hai bản văn này trong sự liên kết với thông điệp Populorum progressio. 

Thông điệp HUMANAE  VITAE nhấn mạnh ư nghĩa hai mặt của tính dục là sự kết hợp và sinh sản, xây dựng xă hội  trên nền tảng của đôi vợ chồng, người nam và người nữ, cả hai đón nhận nhau trong sự khác biệt và bổ túc cho nhau; như thế đôi vợ chồng mở ra cho sự sống [27]. Đây không phải chỉ là luân lư cá nhân: Thông điệp HUMANAE  VITAE cho thấy những liên hệ chặt chẽ giữa đạo đức của sự sống và đạo đức xă hội, khai mở một đề tài giáo huấn được triển khai trong nhiều tài liệu của huấn quyền, và cuối cùng trong thông điệp EVANGELIUM VITAE của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II [28]. Giáo hội nhấn mạnh sự liên hệ giữa đạo đức của sự sống và đạo đức xă hội, v́ Giáo hội biết rằng: “một xă hội sẽ không thể có nền tảng vững chắc khi một đàng khẳng định những giá trị như phẩm giá con người, công lư và ḥa b́nh, nhưng đàng khác, lại hành động ngược lại khi chấp nhận hay nhân nhượng những h́nh thức khinh rẻ và xúc phạm đến sự sống của con người, nhất là đối với những sự sống yếu đuối hay bị gạt ra bên lề” [29]. 

 Tông huấn EVANGELII  NUNTIANDI liên kết chặt chẽ với phát triển – như Đức Giáo Hoàng Phaolô VI viết – “sẽ không thể có việc Phúc Âm hóa trọn vẹn nếu không chú ư đến những liên hệ cụ thể và thường trực hiện hữu giữa Tin Mừng và đời sống cá nhân và xă hội  của con người” [30]. “Có những liên hệ thực sự giữa việc Phúc Âm hóa và đ̣i hỏi nhân bản – phát triển và giải phóng” [31]. Từ nhận thức này, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đặt liên hệ rơ ràng giữa việc rao giảng Đức Kitô với đ̣i hỏi của con người trong xă hội. Làm chứng cho t́nh yêu của Đức Kitô qua các công việc xây dựng công lư, ḥa b́nh và phát triển, là thành phần của việc Phúc Âm hoa, v́ đối với Đức Giêsu Kitô, Đấng yêu thương chúng ta, con người trọn vẹn rất quan trọng. Khía cạnh truyền giáo [32] trong giáo huấn xă hội  của Giáo hội như yếu tố chính yếu của việc Phúc Âm hóa đều đặt nền tảng trên những giáo huấn quan trọng này [33]. Giáo huấn xă hội của Giáo hội loan báo và làm chứng cho đức tin. Đó là khí cụ và khung cảnh tất yếu của việc giáo dục đức tin. 

 

16.       Trong thông điệp Populorum progressio, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI muốn nói với chúng ta, sự phát triển căn cứ theo nguồn gốc và bản chất của nó là một ơn gọi: “Theo chương tŕnh của Thiên Chúa, mỗi người được kêu gọi để tự phát triển; chỉ v́ toàn cuộc sống là ơn gọi” [34]. Chính điều này cho phép Giáo hội can thiệp vào những vấn nạn của phát triển. Nếu sự phát triển chỉ liên quan đến những khía cạnh thuần túy kỹ thuật của đời sống con người, chứ không liên quan ǵ đến ư nghĩa của đời sống con người qua ḍng lịch sử cùng với những con người khác, hoặc không liên quan ǵ đến việc xác định mục tiêu của đời sống con người, th́ Giáo hội không có quyền ǵ để nói lên những điều này. Cũng như Đấng tiền nhiệm của ngài là Đức Giáo Hoàng Lêô XIII trong thông điệp RERUM NOVARUM [35], Đức Giáo Hoàng Phaolô VI ư thức rằng phải chu toàn một trách nhiệm trong triều đại ngài, đó là đem ánh sáng Phúc Âm rọi vào các vấn đề xă hội  thời của ngài [36].  

Nh́n phát triển như một ơn gọi có nghĩa là một mặt, phải công nhận phát triển xuất phát từ một ơn gọi siêu vượt và mặt khác, phát triển không tự đem đến cho ḿnh ư nghĩa tối hậu được. Không phải là không có lư khi thuật ngữ “ơn gọi” xuất hiện trong một đoạn khác của thông điệp, trong đó nói rằng: “Không có chủ nghĩa nhân bản đích thực nào mà không mở ra với Tuyệt Đối và ư thức về ơn gọi đă ban tặng cho đời sống con người ư nghĩa đích thực” [37]. Cái nh́n về sự phát triển này là trọng tâm của thông điệp Popolorum pregressio và động viên mọi suy tư của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI về tự do, chân lư và bác ái trong sự phát triển. Đó cũng là lư do chính yếu làm cho thông điệp này vẫn c̣n mang tính thời sự.

 

17.       Ơn gọi là tiếng kêu đ̣i hỏi phải có một câu trả lời tự do và có trách nhiệm. Sự phát triển toàn diện con người giả thiết sự tự do có trách nhiệm của mỗi con người và của các dân tộc. Không một cơ cấu nào có thể bảo đảm cho sự phát triển này, nếu như bỏ qua hay vượt trên trách nhiệm con người. Những thứ chủ nghĩa cứu thế hứa hẹn đủ điều nhưng chỉ tạo ra những ảo tưởng [38] v́ đưa ra những đề nghị dựa trên việc phủ nhận chiều kích siêu việt của phát triển, cho rằng việc phát triển hoàn toàn nằm trong tầm tay của ḿnh. Sự bảo đảm sai lệch này sẽ chuyển thành những yếu kém, v́ kéo theo việc nô lệ con người, hạ thấp con người thành một phương tiện cho việc phát triển, trong khi sự khiêm tốn của người đón nhận ơn gọi sẽ được biến đổi thành sự tự lập đích thực v́ nó làm cho con người thành tự do. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI không nghi ngờ rằng sẽ có những chướng ngại và hoàn cảnh làm chậm lại sự phát triển, nhưng ngài cũng chắc chắn rằng “mỗi người sẽ là tác nhân chính yếu cho thành công hay thất bại của ḿnh, dù các ảnh hưởng có đè nặng trên họ” [39]. Sự tự do này không chỉ liên quan đến h́nh thái phát triển chúng ta đang xem xét nhưng c̣n liên quan đến cả những hoàn cảnh kém phát triển, không do t́nh cờ hay tất yếu lịch sử, mà do trách nhiệm của con người. Đó là lư do tại sao “các dân tộc đang đau khổ v́ đói kém…kêu gọi khẩn thiết các dân tộc giàu có” [40]. Đó cũng là tiếng gọi của những chủ thể tự do gửi đến những chủ thể tự do khác để cùng nhau lănh nhận trách nhiệm. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đă có một ư thức sắc bén về tầm quan trọng của các cơ cấu và cơ chế kinh tế, nhưng ngài cũng nhận thức rơ bản chất của những cơ cấu và cơ chế này chỉ là những dụng cụ phục vụ cho sự tự do của con người . Chỉ khi có tự do, sự phát triển mới có thể là phát triển con người toàn diện; chỉ trong bầu khí tự do có trách nhiệm, phát triển mới có thể gia tăng cách thỏa đáng.

 

18.       Ngoài sự đ̣i buộc tự do, sự phát triển toàn diện con người được xem như ơn gọi cũng đ̣i buộc tôn trọng chân lư. Ơn gọi hướng đến sự phát triển thúc đẩy con người “phải hoạt động nhiều hơn, nhận thức nhiều hơn, chiếm hữu nhiều hơn để hiện hữu phong phú hơn [41]. Vấn đề được nêu lên: hiện hữu phong phú hơn nghĩa là ǵ? Đức Giáo Hoàng Phaolô VI trả lời câu hỏi này khi ngài chỉ cho thấy phẩm chất chính yếu của sự phát triển đích thực: phát triển phải toàn diện, phải đem thiện hảo đến cho con người toàn diện và cho tất cả mọi người [42]. Giữa những quan niệm về con người đang cạnh tranh nhau trong xă hội hôm nay, và c̣n nhiều hơn nữa vào thời Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, cái nh́n của Kitô giáo có điểm đặc thù là vừa củng cố vừa khẳng định giá trị vô điều kiện của nhân vị và ư nghĩa của việc phát triển con người. Ơn gọi Kitô giáo hướng đến việc phát triển giúp thúc đẩy sự tiến bộ của tất cả mọi người và của con người toàn diện. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI viết: “Điều quan trọng đối với chúng ta là con người, mỗi một người và mỗi nhóm người, và bao hàm toàn thể loài người” [43]. Khi thúc đẩy sự phát triển, đức tin Kitô giáo không dựa vào đặc quyền hay vị trí quyền lực cũng không dựa vào công trạng của các Kitô hữu, chắc chắn đă có và hiện có cho dù có những ranh giới tự nhiên [44], nhưng chỉ dựa vào Đức Kitô, Đấng mà mọi ơn gọi đích thực cho sự phát triển toàn vẹn con người đều qui về. Tin Mừng là yếu tố nền tảng cho sự phát triển, chỉ v́ trong đó Đức Kitô “biểu lộ trọn vẹn con người trong mạc khải về mầu nhiệm Thiên Chúa Cha và t́nh yêu của Người với nhân loại” [45]. Nhờ Chúa chỉ dạy, Giáo hội đào sâu các dấu chỉ của thời đại, giải thích chúng và tŕnh bày cho thế gian “điều thực cốt lơi: một cái nh́n bao quát về con người và nhân loại” [46]. Chính v́ Thiên Chúa nói lên tiếng “vâng” với con người [47], nên con người không thể từ chối mở rộng tâm hồn để đón nhận ơn gọi của Thiên Chúa nhằm thực hiện sự phát triển của ḿnh. Chân lư về sự phát triển  hệ tại ở tính toàn thể: nếu như sự phát triển không nhằm con người trọn vẹn và từng người một, th́ đó không phải là phát triển đích thực. Đó là Sứ điệp trọng tâm của thông điệp Populorum progressio, vẫn c̣n giá trị cho hôm nay và măi măi. Việc phát triển toàn vẹn con người trong chiều kích tự nhiên là lời đáp trả trước tiếng gọi của Thiên Chúa sáng tạo [48]. Sự phát triển đó đ̣i hỏi sự hoàn thành bản thân “nhờ chủ thuyết nhân bản siêu việt đem lại cho con người sự tṛn đầy cao độ nhất: đó là mục đích và ư nghĩa cuối cùng của sự phát triển con người” [49]. Do đó, ơn gọi Kitô giáo hướng đến việc phát triển này đụng chạm không những đến b́nh diện tự nhiên mà c̣n cả b́nh diện siêu nhiên; đó là lư do tại sao: “khi đẩy Thiên Chúa vào trong bóng tối, khả năng của chúng ta sẽ chao đảo không c̣n nhận ra trật tự tự nhiên, mục đích và sự “thiện” [50].

 

19.             Cuối cùng, quan niệm về sự phát triển như ơn gọi đ̣i buộc bác ái phải nằm ở trọng tâm của sự phát triển này. Trong thông điệp Populorum progressio, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đă cho thấy những nguyên nhân của việc chậm phát triển không chủ yếu  nằm trong trật tự vật chất. Ngài mời gọi chúng ta phải t́m những nguyên nhân đó trong những chiều kích khác của con người. Trước tiên là trong ư chí, thường xao nhăng những trách nhiệm liên đới. Thứ đến trong suy tư, đă không định hướng ư muốn cho đúng đắn. V́ thế, khi theo đuổi sự phát triển, cần có tư tưởng và suy nghĩ của những người khôn ngoan trong việc t́m một chủ thuyết nhân bản mới, giúp con người hôm nay t́m lại được chính ḿnh” [51]. Nhưng đó không phải là tất cả. Việc kém phát triển có một nguyên nhân c̣n quan trọng hơn là thiếu suy nghĩ: đó là “thiếu t́nh huynh đệ giữa con người và giữa các dân tộc” [52]. Con người có thể đạt được t́nh huynh đệ này tự cố gắng của ḿnh hay không? Xă hội  càng ngày càng đi đến toàn cầu hóa giúp chúng ta gần gũi nhau, nhưng chưa làm cho chúng ta thành anh em với nhau. Lư trí ở tự nó có thể hiểu sự b́nh đẳng giữa con người và thiết lập một đời sống dân sự ổn định, nhưng không thể tạo được t́nh huynh đệ. T́nh huynh đệ này bắt nguồn từ ơn gọi siêu việt của Thiên Chúa Cha, Đấng yêu thương chúng ta trước và dạy dỗ chúng ta qua Người Con để biết bác ái huynh đệ là ǵ. Trong việc tŕnh bày tiến tŕnh phát triển con người dưới nhiều mức độ, sau khi đă gợi lên đức tin, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI nói lên đỉnh điểm là “sự hiệp nhất trong t́nh yêu của Chúa Kitô, Đấng kêu gọi mọi người như con cái chia sẻ vào cuộc sống của Thiên Chúa sống động, là Cha của mọi người” [53].  

 

20.             Những viễn cảnh do thông điệp Populorum progressio khai mở vẫn luôn là nền tảng mang lại niềm phấn khởi và định hướng cho việc dấn thân phát triển các dân tộc. Ngoài ra Thông điệp c̣n luôn nhấn mạnh đến sự khẩn thiết phải canh tân [54] và kêu gọi phải hành động cách can đảm và không ngần ngại khi đối mặt với những vấn đề lớn lao của sự bất công trong việc phát triển các dân tộc. Chính t́nh yêu trong sự thật kêu gọi sự khẩn thiết này.  T́nh yêu của Chúa Kitô thúc bách chúng ta “CARITAS CHRISTI URGET NOS” (2Cr 5,14). Sự khẩn thiết không những nằm nơi các dữ kiện, cũng không xuất phát từ sức ép của các biến cố hay vấn nạn, nhưng từ chính vấn đề đang được quan tâm: sự thực hiện một t́nh huynh đệ đích thực. Tầm quan trọng của mục đích này đ̣i hỏi chúng ta mở trí để hiểu cho sâu và huy động bản thân từ bên trong, để bảo đảm rằng tiến tŕnh xă hội và kinh tế hiện nay sẽ hướng đến những kết quả đầy tính nhân bản.

 

13.   Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI, Giáo huấn nhân dịp khai mạc Hội nghị khoáng đại Hội đồng Giáo mục Nam Mỹ và vùng Karibê (13.5.2007): Insegnamenti III,1 (2007), 854-870.

14.    Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum progressio (26.3.`967), số 13

15.   Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II , Thông điệp Sollicitudo rei socialis (30.12.1987), số 6-7: AAS 80 (1988), 517-519.

16.    Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum progressio, số 14

17.   Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI , Thông điệp Deus caritas est (25.12.2005) số 18: AAS 98 (2006), 232.

18.   như trên, số 6

19.   Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI, Giáo huấn cho giáo triều Rôma vào dịp Giáng sinh (22.12.2005): Insegnamenti I (2005), 1023-1032.

20.   Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo rei socialis, số 3 

21.   như trên, số 1

22.   như trên, số 3

23.   Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II, Thông điệp Laborem exercens (14.9.1981) số 3: AAS 73 (1981), 583-584.

24.    Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II , Thông điệp Centesimus annus (1.5.1991) số 3

25.   Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum progressio (26.3.1967), số 3

26.   như trên, số 34

27.   như trên, số  8-9; Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI, giáo huấn cho những tham dự viên Hội nghị đại học Lateran nhân dịp 40 năm Thông điệp Humanae vitae (10.5.2008): Insegnamenti, IV, 1 (2008), 753-756.

28.    Thông điệp Evangelium vitae (25.3.1995), số 93: AAS 87 (1995), 507-508.

29.   như trên, số 101.

30.   như trên, số 29

31.   như trên, số 31

32.   Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo rei socialis, số 41.

33.    Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II, Thông điệp  Centesimus annus, số 5.54

34.   như trên, số 15

35.   như trên, số 2; Đức giáo hoàng Lêô XIII, Thông điệp Rerum novarum (15.5.1891): Leonis XIII P.M. Acta, XI, Romae,. 1892, 97-144;  Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo rei socialis số 8; Thông điệp Centesimus annus , số 5

36.   Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum progressio, số 2.13

37.   như trên, số 42

38.   như trên, số 11; Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II, ts Centesimus annus, số 25.

39.   Thông điệp Populorum progressio, số 15

40.   như trên, số 3

41.   như trên, số 6

42.   như trên, số 14. 

43.   Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II, Thông điệp Centesimus annus, số 53-62; Thông điệp Redemptor hominis  (4.3.1979), số 13-14: AAS 71 (1979), 282-286.

44.   Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum progressio , số 12

45.   Công đồng Vaticanô II, Gaudium et spes, số 22

46.   Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum progressio, số 13.

47.    Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI, Giáo huấn cho các tham dự viên Đại hội Giáo hội Ư lần thứ 4 (19.10.2006): Insegnamenti II,2 (2006), 465-477.

48.   Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum progressio, số 16.

49.   như trên

50.   Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI , Sứ điệp cho giới trẻ , Sydney ngày 17.7.2008.

51.   Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum progressio, số 20

52.    như trên, số 66

53.   như trên, số 21