Giới Thiệu Đức Mẹ Mễ Du (Part#3)



Người ta dựng một cây thập giá gỗ sơn xanh để ghi dấu nơi Đức Mẹ hiện ra lần đầu

Ngày 20-4-83, Đức Mẹ khóc v́ những người tội lỗi: “Mẹ muốn làm cho họ ăn năn trở lại, những họ không màng. Các con hăy cầu nguyện, hăy cầu nguyện cho họ. Các con đừng nấn ná chần chừ. Mẹ cần lời cầu nguyện và sự hi sinh của các con”.

“Mẹ cần đến các con, hăy giúp Mẹ hoàn thành kế hoạch của Thiên Chúa”

Ngày 26-4-83: “Lời duy nhất mà Mẹ muốn nói là: toàn thể thế giới hăy trở lại. Mẹ nói với các con, để rồi các con nói lại cho mọi người được biết. Mẹ chỉ xin trở lại thôi… Đó là điều ước muốn của Mẹ. Các con hăy trở lại. Các con hăy hiến trọn vẹn toàn thân các con cho Mẹ”.

Ngày 26-7-1983: “Các con hăy tỉnh thức. Thời gian này thật là nguy hiểm cho các con. Ma quỷ sẽ t́m mọi cách để gạt chúng con ra khỏi con đường (cứu rỗi) này.” 

Ngày 7-8-1983, từ 2 giờ sáng, Mẹ đánh thức các em thị nhân dậy, đưa lên đồi và bảo các em cầu nguyện để đền tội và cầu cho kẻ tội lỗi. 

Ngày 25-8-1983, Mẹ nói: “H́nh phạt sẽ đến nếu loài người không sám hối trở về. Các con hăy kêu gọi người ta sám hối. Tất cả lệ thuộc vào đó”.

Xét như vậy, chúng ta có thể quả quyết mà không sợ sai lầm rằng: Trong suốt thời gian hơn một thế kỷ nay, t́nh thương của Thiên Chúa muốn cứu vớt loài người đă thể hiện hết mức và một cách rơ rệt hơn bao giờ hết bằng cách cử Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa và cũng là Mẹ của nhân loại liên tục đến trần gian. Và nhân loại đă chứng kiến Mẹ Maria đă xuất hiện khắp nơi trên mặt đất từ Đông sang Tây, từ Bắc chí Nam, cuốn Viđêô “Các cuộc hiện ra của Đức Mẹ trong thế kỷ XX" tính ra có đến 300 nơi. Đến đâu, Người cũng gióng lên tiếng nói thức tỉnh nhân loại trước những h́nh phạt đang đe doạ loài người v́ tội lỗi của họ. Nhưng nhất là kêu gọi loài người sám hối quay trở về với Thiên Chúa để được cứu vớt, được ḥa b́nh và hạnh phúc. Các cuộc hiện ra càng ngày càng nhiều, lời Mẹ nói càng ngày càng khẩn thiết cấp bách và tiếng gọi của Mẹ càng khẩn trương.

Chúng ta đă quá quen những địa danh RUE DU BAC (1830) LA SALETTE (1846), LỘ ĐỨC (1858), PONTMAIN (1871), FATIMA (1917) BEAURAING (1932), BANNEUX (1933) v.v… Những năm gần đây, chúng ta lại được nghe nói đến GARABANDAL (1961) MONTICHIARI VÀ ESCORIAL (1980 – 1983).

Nhưng đặc biệt một nơi mới lạ với tên rất khó đọc, khó viết, ít người biết đến đă được lan truyền khắp nơi, đó là:

MEDJUGORJE (tạm dịch Mễ-Du).

Câu truyện hiện ra

Từ 1981 đến nay, MỄ-DU đang thu hút sự theo dơi, t́m hiểu và chú ư của mọi người, v́ đây là nơi Đức Trinh Nữ Maria đă và c̣n đang hiện ra mỗi ngày từ tháng 6-1981 đến nay (2004), tức là đă 23 năm trời ḍng dă (!) tính ra đă hàng vạn lần mà vẫn chưa chấm dứt… và không biết đến bao giờ mới chấm dứt…, cốt để những lời kêu gọi khẩn trương của Mẹ có thời gian thấu đến tận tai mỗi người và toàn thể nhân loại đang trên bờ vực thẳm của một cuộc tự hủy diệt chưa từng có trong lịch sử loài người, nếu sứ điệp kêu gọi hoán cải bởi trời ban xuống không được đáp ứng. C̣n nếu đáp ứng, nhân loại sẽ được tha thứ, ḥa b́nh, thịnh vượng và hạnh phúc. V́ Kinh Thánh mặc khải Thiên Chúa là Đấng giàu ḷng xót thương và tha thứ:

“Thần nào giống được như Thiên Chúa, Đấng nhịn tội ác, Đấng bỏ qua lỗi lầm…, Người không cưu giận măi măi, v́ Người chuộng nhân nghĩa. Với ta, Người lại chạnh thương lần nữa, mà dẫm lên các tội ác của ta. Mọi tội ác của ta, Người sẽ quăng ch́m đáy biển !” (Mica 7.18-19).

Chính v́ thế mà MỄ DU từ đó đến nay đă trở nên một trong những Đền Thánh và Nơi Hành Hương lừng danh nhất và được người ta tuốn đến đông đảo nhất trong toàn thể thế giới Công giáo. Cho đến nay, ước tính đă có vài ba chục triệu khách hành hương đến Mễ Du từ khắp năm châu bốn bể. Ngay cả người Việt Nam chúng ta, dù xa xôi diệu vợi nhiều trắc trở và hết sức tốn kém (!) thế mà cũng đă có một số người gồm Giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân đi hành hương đến đó. 

MỄ-DU là một làng quê nhỏ, xa xôi nằm lọt giữa miền núi đồi bao bọc chung quanh, ở phía Tây–Nam nước nước Nam Tư cũ (Yougoslavia), nay gọi là BOSNIA HERZEGOVINA, là một nước hồi đầu Đức Mẹ hiện ra c̣n theo Xă Hội Chủ Nghĩa.

Dân chúng ở vùng này chỉ được vài ngàn người, sinh sống bằng cách khai phá đất đồi khô cằn để trồng trọt, cách riêng là trồng nho, lúa ḿ và thuốc lá… Đa số các gia đ́nh sống nhờ vào đồng lương của những tay lao động chính của gia đ́nh đi hợp tác lao động ở nước ngoài…

Về mặt tôn giáo, Mễ Du là một giáo xứ do các linh mục Ḍng Phan Sinh coi sóc từ nhiều thế kỷ. Giáo dân 3000 người. Sau Đệ nhị thế chiến, giáo xứ đă xây dựng được một thánh đường khang trang với hai ngọn tháp cao uy nghiêm. Thánh đường được dâng kính Thánh Giacô bê Tiền. Lúc ấy người ta không biết tại sao lại xây một thánh đường lớn quá khổ như thế để làm ǵ. Sau này, mới thấy đó là an bài của Chúa quan Pḥng cho những chuyện sẽ đến sau này.

Nằm trong ranh giới của giáo xứ có hai ngọn núi gối vào nhau thành h́nh thước thợ: Ngọn Sipovac, cao 540m, từ sau 1933 được đổi tên thành KRIZEVAC (núi Thánh Giá) v́ trên ngọn núi này, giáo xứ đă vất vả mang các vật liệu lên tận ngọn để xây một Thập giá bằng bê tông cốt sắt cao 12m. Ngọn thấp hơn gọi là Crnica, mà triền núi phía dưới gọi là PODBRDO nơi Đức Mẹ hiện ra, v́ thế nay gọi là ĐỒI HIỆN RA. Một làng quê nhỏ bé nghèo nàn tầm thường không chút tiếng tăm, không ai để ư, chẳng khác ǵ làng Nadarét hay Bêlêm xưa, th́ Đức Trinh Nữ Maria lại chọn để qua sáu thị nhị nhân đơn sơ, dân dă quê mùa, Mẹ bắt đầu ban những Sứ Điệp của Mẹ mà Mẹ bảo là “như chưa từng có trong lịch sử từ nguyên thủy cho tới bây giờ” (4-4-85) cho giáo xứ, cho các nhóm cầu nguyện, cho khách hành hương và sau cùng cho tất cả thế giới.

Lm Phêrô Hoàng Minh Tuấn, DCCT