Sứ điệp Lộ
Đức và Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm
§ Lm Nguyễn Hữu
Thy
1. Ta là Đấng Vô Nhiễm
Nguyên Tội
Biến cố
Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức đă
đạt tới cao điểm của nó vào ngày 25.3.1858,
vào ngày Lễ Truyền Tin(1), ngày Đức Mẹ tự
giới thiệu: "Ta là Đấng Vô Nhiễm Thai!"
Đó là lần thứ 16 trong 18 lần Đức Mẹ
hiện ra cùng thiếu nữ Bernadette Soubirous ở hang núi
Massabielle, miền Nam Pháp.
LoDuc-HangDa.jpg
Thánh địa Lộ
Đức, nơi Đức Mẹ đă hiện ra
với thánh nữ Bernadette năm 1858
Quả vậy,
trước câu hỏi của Bernadette: "Thưa
Mademoiselle, xin cô vui ḷng cho con biết cô là ai?",
Đức Maria đă mở rộng hai tay ra hướng về
trái đất. Sau đó Đức Mẹ lại chấp
hai tay trên ngực, ngước mắt lên trời và nói
bằng thổ ngữ địa phương của vùng
đó vào lúc bấy giờ: "Que soy era Immaculada
Councepciou" - Ta là Đấng Vô Nhiễm Thai! Và Bernadette -
tuy đă 14 tuổi, nhưng chưa rước lễ
lần đầu và hầu như chưa học giáo lư ǵ
cả - không hề hiểu được câu nói của
"Madame trắng" kia. Dĩ nhiên khi đi xem lễ các
ngày Chúa Nhật, Bernadette chắc chắn đă
được nghe nói về ơn Vô Nhiễm Thai của
Mẹ Thiên Chúa, nhưng em không hiểu được các
bài giảng bằng tiếng Pháp. Hơn nữa, ư niệm
"Vô Nhiễm Thai" đối với em cả là
một điều bất khả tri giống như
mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi vậy.
Sau biến cố
hiện ra của Đức Mẹ, Bernadette đă phải
nhắc đi nhắc lại câu nói "Que soy era Immaculada
Councepciou" cho Vị Linh mục Quản Xứ của em
cũng như các cơ quan chính quyền, nhưng
đối với em câu nói đó cũng giống như
một câu bùa chú, không thể hiểu được. Cha
Peyramale, vị Quản Xứ lúc bấy giờ, rất
ngạc nhiên về kiểu nói khác thường này, v́ lúc
bấy giờ người ta thường chỉ nói
"sự vô nhiễm thai của Đức Maria" hay
"Đức Maria vô nhiễm", chứ không một ai
xưng tụng Đức Mẹ bằng tước
hiệu "Đấng Vô Nhiễm Thai" cả. Chỉ
về sau vị Quản Xứ mới hiểu ra
được rằng kiểu nói đó là một minh
chứng hùng hồn cho sự tinh tuyền tuyệt
đối của Mẹ Thiên Chúa và việc Mẹ
được cưu mang không hề vương vấn
tội nguyên tổ. Chính tính chất đặc biệt
của câu nói "Ta là Đấng Vô Nhiễm Thai" đối
với vị Quản Xứ - người vào lúc
đầu hoàn toàn nghi ngờ về tính cách chính xác của
việc Đức Mẹ hiện ra – đă trở thành
luận cứ cho sự khả tín của sứ
điệp trời cao, bởi v́ bé gái thị kiến
chưa đủ khả năng để hiểu
được câu nói khó hiểu và bất b́nh thường
đó.
Sứ điệp
Lộ Đức gắn bó chặt chẽ với
đặc sủng Vô Nhiễm Thai của Đức
Mẹ, mà trước đó bốn năm – năm 1854 –
đă được ĐTC Piô IX long trọng công bố
thành tín điều. Như vậy, qua lời tự
nhận ḿnh là Đấng Vô Nhiễm Thai, Đức Mẹ
đă gián tiếp chuẩn y quyền giáo huấn vô ngô
của Đức Giáo Hoàng Roma, mà Công đồng chung Vatican
I vào năm 1870 đă khẳng định như một giáo
huấn bó buộc. Đức Piô XII trong Thông điệp
dịp kỷ niệm 100 năm biến cố Đức
Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, đă cho
rằng: "Chắc chắn lời phán quyết vô ngộ
của Đức Giáo Hoàng Roma, của Đấng diễn
giải chính thức của chân lư mặc khải, không
cần đến sự chuẩn y của trời cao
hầu trở thành có giá trị cho đức tin của các
tín hữu. Nhưng dân Kitô giáo và các chủ chăn của
ḿnh đă cảm thấy vô cùng xúc động và biết
ơn khi câu trả lời của trời cao được
phát ra trên môi miệng Bernadette: "Ta là Đấng Vô
Nhiễm Thai!"
Nhưng lư do nào đă
khiến Mẹ Thiên Chúa – qua biến cố hiện ra
với Bernadette vào ngày 25.3.1858 - chuẩn y tín điều
đă được Đức Piô IX công bố?
2. Sự diễn biến
lịch sử của tín điều Đức Mẹ Vô
Nhiễm
Ở đây chúng ta
không bàn về sự can thiệp của trời cao,
nhưng chúng ta chỉ dựa theo lư do về lịch sử
các tín điều và về t́nh trạng tinh thần
đặc biệt vào giữa thế kỷ 19. Chúng ta có thê
bắt đầu với một cái nh́n vào sự phát
triển có tính cách lịch sử của định tín.
Thật ra chưa có một tín điều nào đă phải
trải qua một thời gian nghiên cứu và đầy
tranh căi lâu như tín điều Vô Nhiêm Thai của
Đức Maria. Nguyên tắc nền tảng của tín
điều là sự mặc khải được dựa
trên sự liên kết chặt chẽ của Mẹ Thiên Chúa
với chương tŕnh cứu độ của
Đức Kitô.
Theo "Tiền Phúc
Âm" - (Protoevangelium), th́ Thân Mẫu Đấng Messia là
kẻ thù của "con rắn" (St 3,15) và v́ thế
Người không bị đặt dưới quyền
lực của ma quỷ qua tội nguyên tổ
được. Trong lời truyền tin của Thiên
thần, Đức Mẹ đă được xưng
nhận là Đấng đầy ơn phúc (x. Lc 1,28),
Đấng được chính Thiên Chúa kén chọn
để giao cho sứ mệnh làm Mẹ Con Một của
Người. Từ nền tảng Kinh Thánh này, các thánh Giáo
Phụ đă tuyên xưng Đức Mẹ ngay từ
thế kư II là "Êvà mới" bên cạnh Đức
Kitô, A-dong mới. Đức tin và sự vâng phục
của Đức Mẹ đă quân b́nh được
điều Eva gây ra do sự bất phục ṭng của bà.
Sự công bố long trọng tước hiệu
"Mẹ Thiên Chúa" tại Công đồng Ephesus năm
431 đă kêu mời sự tin nhận Đức Maria là
Đấng "hoàn toàn tinh tuyền" và Đấng
"hoàn toàn thánh thiện".
Từ thế kỷ
VI, Giáo Hội mừng kính Lễ Đức Mẹ Hồn
Xác Lên Trời – xuất phát từ phía đông đế
quốc Roma - Nhờ vào sự liên kết đặc
biệt của Người với công tŕnh cứu
chuộc của Đức Kitô, Đức Maria không thể
bị rơi vào ṿng hư nát của thể xác phàm nhân, mà
tội A-dong đă gây ra. Sự so sánh Êvà-Maria, lời
ngợi khen Mẹ Thiên Chúa và việc cử hành việc
Đức Mẹ được rước về
Trời là nền tảng cho sự phát biểu về
nguồn gốc thánh thiện của Đức Maria trong
Giáo Hội Đông Phương. Bằng chứng thứ
nhất về tín điều Đức Mẹ Hồn Xác
Lên Trời được t́m thấy trong một bài
giảng của Đức Giám Mục Theotechnus thành Livias
(ngày nay thuộc nước Gio-đan) vào thế kỷ
thứ VI(2).
LoDuc-Bernadette.jpg
Thiếu nữ
Bernadette (14 tuổi) đă được nh́n thấy
Đức Mẹ
Trong khi đó ở Tây
phương, lời phát biểu của thánh Augustinô (429)
lại mang tính cách khác. Khi phát biểu về Đức
Maria, thánh nhân không muốn đề cập đến
vấn đề tội lỗi, mặc dù quan điểm
thánh nhân về vấn đề tội nguyên tổ nơi
Đức Maria cũng không "tích cực" lắm(3).
Từ thế kỷ VIII, Giáo Hội Đông Phương
theo lễ nghi Hy Lạp mừng Lễ Đức Mẹ
được cưu mang trong cung ḷng thánh nữ Anna vào ngày
9 tháng 12. Từ thế kỷ XI Lễ này cũng
được bắt đầu mừng ở Tây
Phương theo lễ nghi La-tinh, khởi đầu từ
Anh Quốc. Đan sĩ Eadmer thuộc Ḍng Biển
Đức, một học tṛ của thánh Anselm Canterbury (Tk.
XII), là nhà thần học đầu tiên đă đề
cập rơ ràng về sự thụ thai hoàn toàn không
vướng mắc nguyên tội của Mẹ Thiên Chúa.
Trong khi đó, đa
số các nhà thần học thời Trung cồ, đặc
biệt thánh Tôma Aquinô và thánh Bonaventura, đă không
đồng ư quan điểm như thế về Vô
Nhiễm Thai của Đức Maria, nhưng cho rằng
Đức Mẹ đă được thánh hóa ngay lập
tức khi được cưu mang trong cung ḷng thân mẫu
Mẹ, v́ theo các ngài, là một thành phần nhân loại,
Đức Maria cũng cần sự cứu rỗi của
Đức Kitô. Nghĩa là trong một khoảnh khắc
ngắn ngủi nào đó, Đức Maria cũng
vướng mắc tội nguyên tổ.
Điểm
đột phá thần học rơ ràng và dứt khoát nhất
về đặc sủng Vô Nhiễm Thai của Đức
Maria là do Duns Scotus (+1308), nhà thần học người Anh
thuộc Ḍng Phan-xi-cô, phát động. Ông dựa trên tư
tưởng "tiền cứu rỗi", qua đó
Đức Maria – nhờ vào công nghiệp cứu chuộc
của đức Kitô trong tương lại - đă hoàn
toàn được ǵn giữ khỏi nguyên tội ngay
trước khi Mẹ được thụ thai.
Dựa vào thế giá
thánh Tôma Aquinô, các nhà thần học Ḍng Đa-minh đă trong
một thời gian dài gắt gao chống lại sự xác
tín lan tràn rộng răi trong Giáo Hội chủ trương
rằng Đức Mẹ đă được thụ thai
mà không hề vương vấn nguyên tội; v́ theo họ,
nếu chủ trương như thế th́ Đức
Mẹ không được hưởng ơn cứu
độ của Đức Kitô. Nhưng ngay trong hàng
ngũ các thầy Ḍng Đa-minh con số những
người ủng hộ quan điểm "Immaculata
Conception" mỗi ngày mỗi tăng. Từ thế
kỷ XIV, các phân khoa thần học của các đại
học danh tiếng ở Âu Châu – khởi đầu từ
đại học Sorbonne ở Paris (Pháp), cũng như
đại học Köln, Mains (Đức) và Wien (Áo), v.v… -
chỉ cấp văn bằng đại học cho
những sinh viên đồng thuận với giáo huấn
Đức Mẹ Vô Nhiễm. Sự định nghĩa có
tính cách tín lư về sự Vô Nhiễm Thai của Đức
Maria đă được đề xuất trong Công
đồng Basel năm 1439, nhưng về sau v́ không
được đa số các nghị phụ đồng
ư nên Đức Giáo Hoàng tuyên bố vô hiệu lực.
Nhưng từ thế kỷ XV trở đi, các Đức
Giáo Hoàng đều cổ vũ mỗi ngày một hơn
việc tổ chức mừng lễ Đức Mẹ Vô
Nhiễm. Do đó, vào năm 1708, Đức Clemens XI đă
cho mừng khắp nơi trong toàn Giáo Hội. Dĩ nhiên,
Sách Lễ Ḍng Đa-minh có bản văn riêng, và trong đó
ghi: "sự giải thoát của Đức Maria khỏi
nguyên tội sau khi linh hồn được phó vào trong
thể xác". Nhưng cuối cùng, vào năm 1842, câu
văn này hoàn toàn bị loại bỏ. Bề Trên Cả
Ḍng Đa-minh xin phép cho Ḍng của ngài cũng được
mừng kính Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm cùng với
toàn thể Giáo Hội.
Về phía Ṭa Thánh luôn
luôn ủng hộ sự xác tín phổ cập trong Giáo
Hội về đặc sủng Vô Nhiễm Thai của
Đức Maria. Đức Giáo Hoàng Sixtus IV nghiêm cấm
tất cả những chống đối cho rằng giao
huấn về sự Vô Nhiễm Thai của Đức Maria
là lạc đạo. C̣n thánh Giáo Hoàng Piô V, một thầy
Ḍng Đa-minh, cấm đưa giáo huấn ra bàn căi một
cách công khai, ngoại trừ ở các đại học.
Năm 1661 Đức Giáo Hoàng Alexandre VII đă ban hành
một Sắc Chỉ nêu lên những yếu tố quan trọng,
như một chuẩn bị cho định tín năm 1854.
Vào đầu thế
kỷ XIX tín điều vẫn c̣n bị chống
đối nơi một số người thuộc phái
Jansénistes (phái Khắc Khổ) ở Pháp, bởi v́ theo
họ th́ sự phát triển thần học của Giáo
Hội đă được khép lại với thời
thượng cổ (thánh Augustinô). Phái Jansénistes ngày xưa
cũng có thể so sánh với một số các nhà thần
học ngày nay đă giới hạn việc phát triển các
tín điều lại trong thiên niên kỷ thứ nhất mà
thôi. Nhưng đại đa số trong Hội
đồng Giám Mục Đức và các phân khoa thần học
trong vùng lănh thổ nói tiếng Đức – dĩ nhiên không
hẳn v́ lư do đại kết Kitô giáo – đă tỏ thái
độ hoàn toàn lạnh nhạt với khuynh hướng
của các nhà thần học đó.
Bởi vậy, khi giáo
sư thần học Georg Hermes (đh. Köln/Đức) và các
học tṛ của ông tuyên truyền sự hoài nghi về
đặc sủng vô nhiễm thai của Đức Maria,
th́ vào năm 1837 Đức Tổng Giám Mục Köln đă
đ̣i buộc các Linh mục trong Giáo phận của ngài
phải tuyên tín giáo huấn đó trên giấy tờ hẳn
hoi. Ngoài ra, việc công bố cách long trọng tín
điều đă được cổ vũ nhờ
lời đề nghị của thánh Leonhard Porto Maurizio
(1751) triệu tập một "Công đồng bằng
văn thư", tức Đức Thánh Cha thăm ḍ ư
kiến của các Giám Mục trên thế giới. Trong
thế kư XVII và XVIII, các vua Tây Ban Nha luôn luôn cố gắng
vận động ban hành tín điều.
Vào năm 1840, 51 Giám
Mục người Pháp đă đệ tŕnh Đức Giáo
Hoàng Grêgôriô XVI thỉnh nguyện thư xin ban hành thành tín
điều. Và sau đó các Giám Mục khác cũng
đồng thuận như vậy. Ngoài ra, từ năm
1834 một số lớn các vị Hồng Y, Giám Mục và
các Ḍng Tu (kể cả Ḍng Đa-minh) đă xin Đức
Grêgôriô đưa tĩnh từ "vô nhiễm" vào trong
Kinh Tiền Tụng ngày Lễ Đức Maria
được cưu mang và vào trong Kinh Cầu Đức
Bà: "Nữ Vương chẳng hề mắc tội
tổ tông", một điều mà các thầy Ḍng
Phan-xi-cô đă làm từ lâu. Đến năm 1847 th́ các sách
phụng vụ do Đức Piô X ban hành đều có thêm
vào trong Kinh Tiền Tụng va Kinh Cầu Đức Bà
tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm.
Hiện tượng
này đă làm sống động lại tinh thần sống
đạo sốt sắng trong Giáo Hội Công Giáo, mà
những biến động bất ổn của thời
phục hưng cũng như cuộc cách mạng Pháp làm vùi
lấp đi. Kho tàng truyền thống của Giáo Hội
đặc biệt về Đức Kitô và Đức Maria
lại được tái khám phá. Nhiều Ḍng Tu mới
thành lập đă đề cao ḷng sùng kính Đức
Mẹ. Biến cố chủ chốt chính là biến cố
Đức Mẹ hiện ra cùng thánh nữ Catharina Labouré
ở đường "Rue du Bac" ở Paris (1830),
trong đó Đức Mẹ đă tự giới thiệu
trên bức "Ảnh Đức Mẹ Ban Ơn"
với Lời Kinh: "Lạy Đức Maria Vô Nhiễm,
xin cầu cho chúng con những kẻ chạy đến
nương ẩn nơi Mẹ." Ngoài ra c̣n có vô số
tác phẩm thần học đă đóng góp vào công cuộc
soạn sửa cho định tín về Đức Mẹ
Vô Nhiễm, trong đó phải kể trước hết
công tŕnh đặc khảo của Linh mục Ḍng Tên Giovanni
Perrone năm 1847.
Từ năm 1848 các
Ủy Ban Toà Thánh đă chính thức bắt đầu nghiên
cứu vấn đề. Năm 1849, Đức Giáo Hoàng IX
đă yêu cầu các Đức Giám Mục trên khắp
thế giới cho biết ư kiến về định tín
có thể sẽ được công bố. Trong số 603
vị trả lời, có 546 vị ủng hộ việc
đưa đặc sủng Vô Nhiễm Thai của
Đức Maria đặt thành tín điều. Trong số
57 vị Giám Mục c̣n lại, th́ chỉ có 8 vị là hoàn
toàn chống lại việc ban bố tín điều;
số các vị c̣n lại hoặc giữ thái độ
trung lập hoặc cho rằng việc lập thành tín
điều là quá vội vàng. Dĩ nhiên, tất cả các
Giám Mục đều chứng nhận rằng Dân Chúa
khắp nơi xác tín rất sâu xa về sự Vô Nhiễm
Thai của Đức Maria.
3. Nội dung ư nghĩa của
tín điều
Cuối cùng, vào ngày
8.12.1854, qua Sắc Chỉ "Ineffablis Deus", tín
điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai đă
được long trọng công bố: "Do quyền
năng của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, của hai
thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô và do quyền năng của
Ta, Ta giải thích, tuyên bố và minh định rằng giáo
huấn cho rằng Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria
nhờ ơn thánh và ḷng ưu ái đặc biệt của
Thiên Chúa Toàn Năng dựa vào công nghiệp Đức Giêsu
Kitô, Đấng Cứu Chuộc nhân loại, đă
được giữ ǵn tinh tuyền trước vết
nhơ tội nguyên tổ, được Thiên Chúa mặc
khải và v́ thế đ̣i buộc mọi tín hữu
phải tin một cách chắc chắn và bền
vững"(4).
Tín điều
nhấn mạnh đến việc Đức Maria
được ǵn giữ hoàn toàn trước tội nguyên
tổ. Sắc lệnh của Công đồng Trient về
tội nguyên tổ đă định nghĩa: "Tội
lỗi là sự chết của linh hồn" (peccatum, quod
mors est animae)(5). Sự ghi nhận này người ta có
thể t́m gặp trong Công Nghị Orange II năm 529(6) và
trong các tác phẩm của thánh Augustinô. Các Giáo Phụ
Hy-lạp cũng đồng một quan điểm như
thế về hậu quả của tội nguyên tổ.
Khác với Luther, một thầy Ḍng Augustin và là cha
đẻ của hệ phái Tin Lành ở Đức, Công
đồng Trient phân biệt giữa tội nguyên tổ và
khuynh hướng phạm tội (concupiscence), điều
mà thánh Phaolô thỉnh thoảng cũng gọi là
"tội"(7), nhưng đó không phải là
"tội thực sự", nhưng là khuynh
hướng "do tội gây ra và hướng chiều
về tội"(8). Tridentinum cho rằng tội riêng
của con cháu A-dong là hậu quả của ảnh
hưởng tội nguyên tổ, là "sự di truyền
của A-dong", và cuộc sống xum họp thân giao
với thiên Chúa trên Thiên đàng được đánh
dấu bằng ư niệm "sự công chính và thánh
thiện"(9), điều mà thánh Phaolô cũng đề
cập trong Thư Êphêsô (4,24) như là t́nh trạng của
những người đă được chịu Phép Thánh
Tẩy.
Điều quan
trọng đáng ghi nhận ở đây là tính cách
đặc biệt về việc ǵn giữ khỏi
tội nguyên tổ "nhờ ơn thánh và ḷng ưu ái
đặc biệt của Thiên Chúa Toàn Năng" (singulari
omnipotentis Dei gratia et privilegio)(10). Ở đây, người
ta tự hỏi: Phải chăng đặc sủng này
chỉ dành cho một ḿnh Đức Maria mà thôi? Sắc
Chỉ "Ineffabilis Deus" đă khẳng định rơ
ràng là đặc sủng đó chỉ dành cho Mẹ Thiên
Chúa mà thôi, và ngoài Đức Maria không một tạo vật
nào được hưởng đặc sủng đó.
Tuy nhiên, Đức Piô IX đă không công bố dự
kiến xác định tính cách đặc thù tuyệt
đối của việc Đức Mẹ Vô Nhiễm. V́
lư do đó, nên những ư kiến ngông cuồng quá khích cho
rằng cả Thánh Giuse cũng được ơn vô
nhiễm thai, đă không bị kết án một cách công khai.
Nhưng trong Thông
điệp "Fulgens Corona" dịp kỷ niệm 100
năm tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm (1953),
Đức Piô XII đă tuyên bố rơ ràng rằng ơn Vô Nhiễm
là "đặc ân duy nhất không được dành cho
bất cứ ai khác ngoài Đức Maria ra." Cuối
cùng, bản văn của tín điều đă nhấn
mạnh rằng việc Đức Maria được ǵn
giữ khỏi tội nguyên tổ là "nhờ vào công
nghiệp của Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu
Chuộc nhân loại".
Như thế,
Đức Maria không bị loại trừ khỏi sự
cứu rỗi, nhưng là hiện thực một cách
trọn vẹn nhất công tŕnh cứu độ của
Đức Kitô. V́ thế, Sắc Chỉ "Ineffabilis
Deus" đă nhấn mạnh: "Rất Thánh Trinh Nữ
Maria và Mẹ Thiên Chúa, nhờ vào công nghiệp của Chúa
Cứu Thế, đă không hề bị vướng mắc
tội nguyên tổ, nhưng đă được ǵn
giữ khỏi vết nhơ tội nguyên tổ ngay
trước được cưu mang".
Bởi vậy,
biến cố Đức Mẹ hiện ra tại Lộ
Đức được coi là ấn tín của trời
cao chuyẩn y ơn vô ngộ của Đức Giáo Hoàng, mặc
dù định tín đă được "Công đồng
bằng văn thư" của các Đức Giám Mục
trên thế giới nhất trí ủng hộ. Đồng
thời biến cố Đức Mẹ hiện ra cũng
là một cú đ̣n đánh vào những trào lưu thế
tục chống báng Thiên Chúa và Giáo Hội do các ảnh
hưởng thời phục hưng để lại. Trong
một bài báo vào năm 1870, giáo sư thần học tín lư
Mathias Joseph Scheeben, đại học Köln, đă gọi
ơn vô ngộ của Đức Giáo Hoàng mà Công đồng
Vatican I xác định, và tín điều về Đức
Mẹ được Đức Piô IX công bố
trước đó là hai "phương dược chính
chữa lành cho những sai lầm cơ bản của
thời đại chúng ta hôm nay: Chủ nghĩa tự
nhiên, cùng với chủ nghĩa duy trí và chủ nghĩa
tự do"(11).
Tín điều
Đức Mẹ Vô Nhiễm đồng thời c̣n là sao
mai của ơn thánh trên bầu trời của thế
kỷ XIX, là ngôi sao đă loan báo trước "mặt
trời ơn thánh xuất hiện trong xác phàm"; c̣n
"ngai toà vô ngộ của Đấng Kế Vị
Đức Kitô" là "sao hôm phản chiếu lại
trọn vẹn ánh sáng của mặt trời chân lư vĩnh
cửu đă lặn khỏi mặt đất",
hầu ngăn chặn không để bóng tối vô
đạo trở lại trên nhân loại nữa(12). Theo
giáo sư Scheeben, hai ngôi sao đă nhận lănh
được "ánh sáng từ Đức Kitô, mặt
trời ơn thánh và mặt trời chân lư"(13). Cả
hai tín điều tŕnh bày tính cách siêu nhiên của Kitô giáo
một cách rơ ràng cụ thể. Với hai ngôi sao sáng chói
đó, những tín hữu Công Giáo có thể chiến
thắng được "hoả ngục và tinh thần
thế tục" đang tự huỷ diệt "trong
sự tự phụ về bản chất, lư trí và sự
tự do của ḿnh". Bởi v́, chủ nghĩa tự
do cũng đă thấm nhiễm vào nhiều người
Công Giáo, nhất là tại Đức, nên một sự suy
niệm sâu xa về tính chất siêu nhiên của Kitô giáo là
một điều hết sức quan trọng (14).
4. Nội dung sứ điệp
Đức Mẹ Lộ Đức
Nếu tại Lộ
Đức, Đức Mẹ đă tự giới thiệu
là "Đấng Vô Nhiễm", là Trinh Nữ và Mẹ
Thiên Chúa Vô Nhiễm Nguyên Tội, th́ đó không phải là
một sứ điệp lẻ loi riêng biệt, nhưng là
tột đỉnh của toàn diện biến cố
Lộ Đức. Khởi đầu là lời kêu mời
ăn năn sám hối và quay trở về cùng Thiên Chúa.
Điều đó được đánh dấu
trước hết bằng những đ̣i hỏi khẩn
thiết của Đức Maria vào ngày 24 tháng 2.:
– "Hăy ăn năn
đền tội, hăy ăn năn đền tội, hăy
ăn năn đền tội"
– "Hăy cầu
nguyện cùng Thiên Chúa cho những kẻ tội lỗi
được ơn ăn năn trở lại!"
Và Đức Mẹ
nói riêng cùng Bernadette:
– "Con hăy cúi ḿnh
xuống và hăy hôn mặt đất như là một
việc đền bù cho các kẻ có tội."
Sự tinh tuyền
không chút bợn nhơ của Đức Maria là một h́nh
ảnh đầy hy vọng chống lại tội
lỗi đă từng hạ nhục con người và đồng
thời đưa dẫn con người bước đi
trên một con đường dốc đầy nguy
hiểm. Và tận cùng của con đường này là
sự tiêu diệt đời đời, nếu con
người không hồi tâm ăn năn trở về cùng
Thiên Chúa. Lời kêu mời sám hối phù hợp với
lời rao giảng của Đức Giêsu: "Thời
kỳ đă măn, Nước Thiên Chúa đă đến
gần. Anh em hăy sám hối và tin vào Tin Mừng!" (Mc 1,15).
Nơi Đức Maria, h́nh ảnh con người c̣n mang
đầy tính chất nguyên thuỷ của nó như Thiên
Chúa muốn, tức không vướng mắc tội
lỗi. Nơi Mẹ, "Êvà mới", lại tỏa
sáng ơn Thiên đàng và đạt tới sự viên măn
trọn vẹn. Chân lư về Đức Maria như là
Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội đă củng cố
sự can đảm của chúng ta, hầu cùng với
ơn Chúa chúng ta có thể thoát khỏi được
sự dữ và sống trong niềm hân hoan của Thiên Chúa.
Sứ điệp sám
hối vào ngày 25 tháng 2 liên kết chặt chẽ với
sự đ̣i hỏi: "Con hăy đi đến nguồn
nước, hăy múc nuớc mà uống và hăy tắm rửa
trong đó! Con hăy ăn các cây cỏ mà con t́m thấy mọc
ở nơi đó!"
Để làm cho
nguồn nước có thể phun chảy lên
được, Bernadette đă phải lấy tay đào
đất đầy bùn và sau nhiều lần t́m cách làm cho
nước chảy ra từ cái vũng đất do em
đào lên, Bernadette đă làm bẩn cả mặt mũi.
Nhưng khi em bắt đầu ăn các cỏ dại
mọc gần đó, nhiều người đă cho em là
điên khùng. Nhưng em đă chấp nhận sự
hiểu lầm đó của mọi người như
của lễ đền bù và cầu nguyện cho kẻ có
tội biết ăn năn trở lại.
C̣n việc tắm
rửa trong nước từ nguồn nước mà
Đức Mẹ làm cho vọt chảy lên qua trung gian
của Bernadette, nhắc nhủ đến Phép Rửa
ăn năn sám hối của Gioan Tẩy Giả,
Đấng đă đến để dọn
đường cho Đức Giêsu trong ḷng con người.
Nước là tượng trưng cho sự tinh luyện
cần thiết khỏi tội lỗi, nhưng
đồng thời cũng là biểu hiệu của
sự sống mới trong ơn thánh, một sự
sống được ban cho nhờ Bí tích Rửa Tội.
Ai đi hành hương Lộ Đức, sẽ canh tân
lại ơn Rửa Tội, nhất là khi người
đó chịu Bí tích Thống Hối. Nước là biểu
hiệu cho sự sống sung măn của ơn thánh phù
hợp với cuộc sống thần linh mà Đức
Maria đă được nhận lănh ngay từ
trước khi Mẹ được cưu mang, nhờ vào
công cuộc cứu chuộc trong tương lai của
Đức Giêsu, Con Mẹ. Trong đặc sủng Vô
Nhiễm Thai của Đức Maria, mục đích sự
ăn năn trở lại của chúng ta tỏa sáng lên,
tức trở thành những con người mới,
được Đức Kitô cứu rỗi.
5. Những biểu hiệu
đặc trưng của Đức Mẹ Lộ
Đức
Chính biến cố
hiện ra của Đức Maria cũng cho thấy
rằng đặc sủng Vô Nhiễm Thai đă rực sáng
lên trong vẻ đẹp thiêng liêng của Thiên đàng.
Mẹ Thiên Chúa đă hiện ra với Bernadette như
một thiếu nữ trẻ, mĩm cười và
được bao bọc bởi một luồng ánh sáng
huyền nhiệm. Đức Mẹ mặc áo trắng
với dây thắt lưng màu xanh da trời, trên tay mang
một tràng chuỗi Mân Côi màu trắng, trên hai chân
điểm hai nụ hoa hồng màu vàng cùng mầu với
dây tràng chuỗi Mân Côi. Tâm hồn Đức Maria
đầy tràn ơn thánh - v́ Mẹ được vô
nhiễm nguyên tội – đă toả ra qua sự kiều
diễm bên ngoài của Mẹ, đó điều mà Bernadette
đă ghi nhận được một cách rơ ràng.
Màu áo trắng
Đức Maria mặc trên ḿnh muốn nói lên sự tinh
tuyền thuần khiến của con người Mẹ,
không hề vướng mắc bất cứ vết nhơ
tội lỗi nào, nhưng đồng thời cũng nói
lên rằng Mẹ đă hiện đến từ Trời
Cao. Trong Kinh Thánh Tân Ước, màu "áo trắng" là
tượng trưng cho sự hiển dung của
Đức Giêsu và đồng thời cũng là biểu
hiệu cuộc sống thánh thiện tinh tuyền của
các Thiên thần và các thánh trên Thiên đàng. Tiếp
đến, màu trắng, mầu của ánh sáng tinh tuyền,
là dấu hiệu của tính cách siêu thoát cao thượng và
của niềm hân hoan, của sự tinh tuyền và của
sự vinh hiển vĩnh cửu. V́ thế, mầu
trắng là mầu phù hợp với Đức Maria
nhất, Đấng được cưu mang vô nhiễm
nguyên tội và là Đấng đă được đón
nhận vào trong sư vinh hiển của Thiên đàng.
Tiếp đến, mầu xanh dương cũng là
một mầu tượng trưng cho Trời. C̣n vàng là
một dấu hiệu của sự cao quư nội tâm và
phẩm hàm vương đế. Phẩm hàm vương
đế và sự tham dự vào niềm hân hoan Thiên đàng
đặt nền tảng trên đặc sủng
độc nhất vô nhị của Mẹ, đó là Mẹ
được cưu mang mà không hề bị nhiễm
mắc nguyên tội và sự cộng tác bản thân của
Mẹ vào trong công tŕnh cứu chuộc của Ngôi Hai Thiên
Chúa.
C̣n hoa hồng cũng
là một biểu tượng nói lên sự Vô Nhiễm Thai.
Hơn nữa, hoa hồng cũng là biểu tượng
quen thuộc trong thời thượng cổ nơi nhà thi
sĩ và là Giáo Phụ La-tinh Sedulius Caelius vào thế kỷ V.
Bài thơ thời danh của ngài về "Con Chiên Phục
Sinh" (Paschale carmen) được coi như việc
diễn giải Kinh Thánh bằng thơ thành công nhất
của thời hậu cổ đại. Sedulius ước
mong không chỉ những Kitô hữu, nhưng cả
những người ngoại giáo biết làm cho con
đường đức tin chân chính trở nên êm ái
dễ chịu bằng tính chất yêu kiều đáng yêu
của những vần thơ. Dựa vào công tŕnh cứu
độ của Đức Kitô, Sedulius cũng đưa
ra một sự đối chiếu giữa Êvà và
Đức Maria. Trong đó, ông tŕnh bày Đức Maria
như một bông hồng dịu dàng, tuy trổ sinh
giữa những gai nhọn, nhưng vẻ kiềi
diễm của Mẹ không hề bị sây sát thương
tổn ǵ cả. Và như là Êvà mới Mẹ đă thanh
tẩy những lầm lỗi của bà Êvà qua việc sinh
hạ Đức Kitô(15). Sự tinh tuyền vẹn toàn
của "Êvà mới" được coi như sự
trang bị cần thiết để cộng tác vào công
tŕnh cứu độ của Đức Kitô. Trên thực
tế, Đức Maria đă được nhận lănh
ơn thánh của Đức Kitô ngay trước khi sự
sống của Mẹ được bắt đầu
h́nh thành trong cung ḷng thân mẫu Mẹ, hầu về sau
trong vai tṛ là Mẹ Thiên Chúa và là Người đồng
công cứu chuộc của Đức Kitô, Mẹ có thể
cứu giúp được "mọi con cái Êvà đang
bị lưu đày". Vậy, mục đích của
ơn Vô Nhiễm chính là sự trang bị ơn thánh cho
sự cộng tác của Đức Maria trong chương
tŕnh cứu độ của Đức Kitô.
Lời Kinh Thánh nói
về "bông hồng giữa bụi gai" quả là
một sự tŕnh bày có tính cách thi vị tuyệt vời
về sự tinh tuyền thanh khiết của Đức
Maria. Ngoài ra, trong nghệ thuật thời Kitô giáo sơ
khai, hoa hồng được biểu tượng là h́nh
ảnh của Thiên đàng. Vẻ dịu dàng đáng yêu và
sự sung măn huy hoàng của nó c̣n làm cho hoa hồng thành h́nh
ảnh của sự huyền nhiệm. "Hoa hồng
mầu nhiệm" (Rosa mystica) cũng là một tước
hiệu quen thuộc để xưng tụng Đức
Maria trong Kinh Cầu Đức Bà. Trong Sách Huấn Ca h́nh
ảnh Đức Maria cũng được nhắc
tới, khi nói về Đức Khôn Ngoan - được
tŕnh bày có tính cách biểu tượng như h́nh ảnh
người phụ nữ - mọc lên tươi xinh
"như khóm hồng ở Giê-ri-cô" (Hc 24,14, bản
Vulgata: quasi plantatio rosae in Jericho).
Sau cùng, một dấu
chỉ về sự Vô Nhiễm Nguyên Tội c̣n biểu
hiện ra trong ngày Truyền Tin, 25 tháng 3, ngày Thiên Chúa loan báo
cho Đức Maria về chương tŕnh giáng thế làm
người của Đức Kitô, và trong đó Mẹ
giữ vai tṛ chủ động khi Mẹ tự nguyện
chấp thuận bằng hai tiếng "xin vâng"
việc thụ thai Con Một Thiên Chúa do quyền năng
Chúa Thánh Thần. V́ cũng chính Chúa Thánh Thần,
Đấng đă ǵn giữ Mẹ khỏi vết nhơ
tội nguyên tổ ngay trước khi Mẹ được
cưu mang. Như vậy, cả hai thực tại -
đặc sủng vô nhiễm và việc thụ thai Con Thiên
Chúa – hoàn toàn liên hệ mật thiết với nhau, v́ cùng do
sự tác động của Chúa Thánh Thần.
Qua tiếng "xin
vâng" của ḿnh, Đức Maria xuất hiện như
"Êvà mới" thực sự. V́ những ǵ bà Êvà đă
"trói buộc lại" qua sự bất tuân phục
của ḿnh, th́ Maria, "Êvà mới", lại "tháo
gỡ ra" qua sự tuân phục của ḿnh. Đức
Maria, "Êvà mới", luôn đứng bên cạnh
Đức Kitô, "A-dong mới", Đấng đă
chiến thắng được Sa-tan và tội lỗi.
Vậy, tín
điều Đức Mẹ Vô Nhiễm là một minh
chứng hùng hồn về tâm hồn "đầy ơn
phúc" của Đức Maria (Lc 1,28). Nhưng sự
đầy ơn phúc không ǵ khác hơn là mặt trái tích
cực của cuộc sống không hề bị
vướng mắc vào vết nhơ của tội nguyên
tổ. V́ thế, lời tự giới thiệu của
Đức Maria: "Ta là Đấng Vô Nhiễm" phù
hợp một cách tuyệt diệu với ngày công bố
ơn cứu độ của Thiên Chúa, ngày Lễ
Truyền Tin.
1. xem R. Laurentin, Les
apparitions de Lourdes, 1966, tái bản 2002.
2. xem M. Hauke, Urstand,
Fall und Erbsünde, 2007, trang 135-146.
3. xem G. Söll, Mariologie
1978, S.M. Cechin, L’Immaculata Concezione, 2003
4. Denzinger-Hünermann (DH)
2803.
5. DH 1512.
6. DH 372.
7. xem Rm 6,12-15; 7,7.14-20.
8. DH 1515.
9. DH 1512
10. DH 2803.
11. Das oekumenische Konzil
vom Jahre 1869, Bd. II, Regensburg 1870, trang 507.
12. Immakulata und päpstliche
Unfehlbarkeit. Sedes Sapientiae und Cathedra Sapientiae. Neu herausgegeben von
J. Schmitz, Paderborn 1954, trang 20tt.
13. cùng chỗ như
trên, 21.
14. cùng chỗ như
trên, 22tt.
15. Carmen 2,28-34: PL
19,595tt
(Kỷ niệm 150 năm
Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức:
1858-2008)
Lm Nguyễn Hữu Thy