CHƯƠNG VI: PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC VÀ KỸ THUẬT

 

68.       Sự phát triển của các dân tộc liên kết chặt chẽ với sự phát triển của các cá nhân. Ở tự bản chất, nhân vị tham gia cách tích cực vào sự phát triển chính ḿnh. Sự phát triển được bàn đến ở đây không chỉ đơn thuần là kết quả của vận hành tự nhiên, v́ như mọi người đều biết, tất cả chúng ta đều có thể có những chọn lựa tự do và có trách nhiệm. Phát triển cũng không chỉ tùy thuộc vào tính khí thất thường của chúng ta, v́ tất cả chúng ta đều biết rằng ḿnh là một quà tặng chứ không phải là cái ǵ tự sinh. Tự do của ta được định h́nh cách sâu xa bởi chính hữu thể và bởi cả những giới hạn của ḿnh. Không ai định h́nh lương tâm của ḿnh cách độc đoán nhưng tất cả chúng ta đều xây dựng cái “tôi” trên nền tảng cái “ngă” (nhân tính) đă được ban cho ta. Không những người ở bên ngoài không thể kiểm soát chúng ta, nhưng ngay chúng ta cũng không thể hoàn toàn kiểm soát chính ḿnh. Sự phát triển của một con người sẽ bất thành nếu người đó cho rằng ḿnh là tác giả duy nhất của phát triển. Nói theo cách loại suy, sự phát triển của các dân tộc sẽ bị biến chất nếu nhân loại nghĩ rằng ḿnh có thể tái tạo chính ḿnh nhờ những “kỳ công” của kỹ thuật, cũng thế sự phát triển kinh tế sẽ đem đến những tai hại nếu nó chỉ dựa vào những “kỳ công” của tài chính để duy tŕ sự tăng trưởng giả tạo gắn liền với việc tiêu thụ quá mức. Đối diện với tham vọng chỉ dựa vào sức mạnh con người này (prométhée), chúng ta phải củng cố t́nh yêu nhằm xây dựng sự tự do không mang tính độc đoán, nhưng là thứ tự do mang chất nhân bản khi nh́n nhận sự thiện đi trước chúng ta. Để đạt được mục đích này, con người cần trở về với chính ḿnh để nhận ra những lề luật nền tảng của luật luân lư tự nhiên mà Thiên Chúa đă ghi khắc vào ḷng chúng ta.

 

69.       Thách đố của phát triển ngày nay liên kết chặt chẽ với tiến bộ kỹ thuật, được ứng dụng cách ngoạn mục trong lănh vực sinh học. Cần nhấn mạnh rằng kỹ thuật là một thực tại mang tính nhân văn sâu sắc, gắn liền với sự tự lập và tự do của con người. Kỹ thuật diễn tả và khẳng định cách mạnh mẽ sự làm chủ của tinh thần trên vật chất. Tinh thần, “được giải thoát khỏi sự nô lệ các thụ tạo, có thể dễ dàng nâng ḷng lên hướng đến việc thờ phượng và chiêm ngắm Đấng Tạo Hoá” [150]. Kỹ thuật cho phép ta chế ngự vật chất, giảm thiểu những nguy cơ, tiết kiệm sức lực và cải thiện hoàn cảnh sống. Kỹ thuật đáp trả chính ơn gọi của lao công: nhờ kỹ thuật vốn là công tŕnh của trí tuệ con người, con người nhận ra chính ḿnh và hoàn thành nhân tính của ḿnh. Kỹ thuật là khía cạnh khách quan của hành động nhân loại [151], nhưng nguồn gốc và lư do của hành động này lại nằm ở yếu tố chủ quan: con người làm việc. Do đó, kỹ thuật không bao giờ chỉ thuần túy là kỹ thuật. Nó biểu lộ con người và những khát vọng của con người hướng đến sự phát triển, nó diễn tả nỗ lực của tinh thần muốn dần dần vượt qua những giới hạn vật chất. Theo nghĩa này, kỹ thuật là lời đáp trả của con người trước mệnh lệnh của Thiên Chúa trao cho con người canh tác và giữ ǵn trái đất    (St 2,15), và kỹ thuật phải hướng đến chỗ củng cố giao ước giữa nhân loại và môi trường sống, một giao ước phản ánh t́nh yêu sáng tạo của Thiên Chúa.

 

70.       Phát triển kỹ thuật có thể khiến người ta nghĩ rằng chỉ cần kỹ thuật là đủ, khi con người đặt ra quá nhiều câu hỏi “làm thế nào” mà ít khi đặt câu hỏi “tại sao” vốn là những câu hỏi thúc đẩy con người hành động. Chính v́ thế kỹ thuật mang những nét hàm hồ. Xét như là khí cụ của tự do phát sinh từ tính sáng tạo của con người, kỹ thuật có thể được hiểu như một yếu tố của tự do tuyệt đối, sự tự do muốn vượt lên trên những giới hạn nội tại trong sự vật. Tiến tŕnh toàn cầu hóa có thể lấy kỹ thuật thay thế cho các ư thức hệ, để rồi đến lượt nó kỹ thuật lại trở thành một quyền lực ư thức hệ đẩy con người đến nguy cơ khép kín chính ḿnh cách tiên thiên, làm cho nó không thể bước ra bên ngoài để gặp gỡ hữu thể và chân lư. Nếu điều đó xảy ra, có lẽ tất cả chúng ta sẽ nhận biết, đánh giá và quyết định về đời sống của ḿnh hoàn toàn từ chân trời văn hóa mang tính kỹ trị là thứ chân trời mà chúng ta bị ảnh hưởng xét về mặt cơ cấu, thế nhưng sẽ không bao giờ t́m được ư nghĩa (đời sống) bởi lẽ ư nghĩa đó không hoàn toàn do ta làm ra. Ngày nay, tầm nh́n này làm cho năo trạng kỹ trị thắng thế đến độ nó đồng hóa cái “thật” với cái “có thể làm ra”. Thế nhưng khi tiêu chuẩn duy nhất của chân lư chỉ là tính hiệu năng và thực dụng, th́ lập tức sự phát triển bị chối từ. Sự phát triển đích thực không hệ tại chủ yếu ở cái “làm”. Ch́a khoá của phát triển là một tâm trí có khả năng suy tư theo lư luận kỹ thuật, đồng thới nắm bắt được ư nghĩa nhân văn đầy đủ của hoạt động con người, trong chân trời của ư nghĩa toàn diện về hiện hữu nhân sinh. Ngay cả khi chúng ta làm việc qua các vệ tinh hay qua những phương tiện điện tử được điều khiển từ xa, th́ hành động của ta vẫn là hành động của con người, là cách thế diễn tả sự tự do mang tinh thần trách nhiệm của ta. Kỹ thuật có sức hút đặc biệt v́ nó lôi ta ra khỏi những giới hạn thể lư của ḿnh và mở rộng chân trời của ta. Thế nhưng tự do của con người chỉ là tự do đích thực khi nó đáp ứng sự cuốn hút của kỹ thuật bằng những quyết định vốn là hoa trái của trách nhiệm luân lư. Do đó xuất hiện nhu cầu khẩn thiết là phải huấn luyện việc sử dụng kỹ thuật một cách có trách nhiệm về đạo đức. Khởi đi từ sự cuốn hút của kỹ thuật, chúng ta phải t́m lại ư nghĩa đích thực của tự do, vốn không nằm ở chỗ say mê sự tự lập hoàn toàn nhưng ở lời đáp trả trước tiếng gọi của hữu thể, bắt đầu bằng chính hữu thể của ḿnh.

 

71.       Một vài những ứng dụng kỹ thuật trong lănh vực phát triển và ḥa b́nh cho thấy năo trạng kỹ thuật có thể đưa đến những lệch hướng khỏi những nguyên lư mang tính nhân văn vững chắc. Sự phát triển của các dân tộc thường được xem như vấn đề kích thích tài chính, mở cửa thị trường, giảm thuế, đầu tư sản xuất và những đổi mới cơ chế; nói cách khác, là vấn đề thuần túy kỹ thuật. Tất cả những điều nói trên đều có tầm quan trọng cả, nhưng chúng ta tự hỏi tại sao những chọn lựa kỹ thuật như thế cho đến nay chỉ đem lại những kết quả bất toàn. Phải t́m kiếm những lư do sâu hơn. Phát triển sẽ không bao giờ được bảo đảm hoàn toàn nhờ những sức mạnh có thể nói là tự động và vô hồn, cho dù là những sức mạnh phát xuất từ thị trường hay chính trị. Sẽ không thể có phát triển nếu không có những con người liêm chính, những nhà tài chính và những chính trị gia có lương tâm phù hợp với những đ̣i hỏi của công ích. Cả năng lực chuyên môn lẫn sự vững vàng về luân lư đều cần thiết. Khi kỹ thuật chiếm thế thượng phong th́ hậu quả là sẽ có sự lẫn lộn giữa phương tiện và mục đích, đến độ tiêu chuẩn duy nhất cho hành động trong kinh doanh sẽ là lợi nhuận tối đa, trong chính trị là củng cố quyền lực, trong khoa học là những kết quả nghiên cứu. Như thế, ẩn dưới những mạng lưới trao đổi kinh tế, tài chính và chính trị, vẫn c̣n đó những hiểu lầm, bất ổn và bất công. Ḍng chảy kiến thức kỹ thuật gia tăng nhưng chỉ có lợi cho những người sở hữu kiến thức đó, c̣n hoàn cảnh sống của nghững người dân không biết đến kiến thức đó vẫn không hề thay đổi và ít có cơ may giải phóng đối với họ.

 

72.       Ngay cả ḥa b́nh cũng có nguy cơ bị xem như một sản phẩm kỹ thuật, chỉ là kết quả của những thỏa ước giữa các chính phủ hoặc những sáng kiến nhằm bảo đảm sự trợ giúp kinh tế hiệu quả. Quả thật là việc xây dựng ḥa b́nh đ̣i hỏi phải thường xuyên thiết lập những quan hệ ngoại giao, những trao đổi kinh tế và kỹ thuật, những gặp gỡ văn hóa, những thỏa thuận về các dự án chung, cũng như những nỗ lực hỗ tương nhằm ngăn chặn mối đe dọa xung đột quân sự và nhổ tận gốc những nguyên nhân tiềm ẩn của chủ nghĩa khủng bố. Tuy nhiên, nếu muốn cho những nỗ lực đó mang lại kết quả lâu dài, th́ nó cần được đặt nền trên những giá trị cắm rễ sâu trong sự thật về đời sống con người. Nói cách khác, phải lắng nghe tiếng nói của các dân tộc bị ảnh hưởng và xem xét hoàn cảnh sống của họ để hiểu cho đúng tâm tư nguyện vọng của họ. Như thế, người ta phải ghi nhận ở đây biết bao cố gắng của biết bao người đă mạnh mẽ dấn thân nhằm thúc đẩy sự gặp gỡ giữa các dân tộc và cổ vơ sự phát triển trên nền tảng t́nh yêu và sự hiểu biết lẫn nhau. Trong số những người này, phải kể đến các Kitô hữu đă dấn thân cho nhiệm vụ vĩ đại là mang đến cho phát triển và ḥa b́nh một chiều kích đầy tính nhân văn.

 

73.       Gắn liền với phát triển kỹ thuật là sự gia tăng rất nhanh những phương tiện truyền thông xă hội. Ngày nay, hầu như không thể tưởng tượng đến đời sống của gia đ́nh nhân loại mà lại không có những phương tiện này. Dù tốt hay xấu, những phương tiện này đă là thành phần thiết yếu của đời sống đến nỗi thật là hàm hồ nếu cho rằng nó ở thế trung lập, và đ̣i hỏi cho nó quyền độc lập đối với luân lư đạo đức liên quan đến con người. Thông thường, những quan điểm nhấn mạnh bản chất thuần túy kỹ thuật của truyền thông như thế thực ra chỉ biện hộ cho sự lệ thuộc của nó vào những tính toán kinh tế nhằm mục đích thống trị thị trường, và điều khác nữa là cố gắng áp đặt những mô thức văn hóa phục vụ cho mục tiêu chính trị và ư thức hệ. Do tầm quan trọng nền tảng của truyền thông trong việc kích thích những thay đổi cách nh́n nhận thực tại và chính con người, chúng ta phải suy nghĩ cẩn thận về ảnh hưởng của truyền thông, đặc biệt là trên b́nh diện đạo đức-văn hóa của toàn cầu hóa và của sự phát triển các dân tộc trong t́nh liên đới. Nếu toàn cầu hóa và phát triển đ̣i hỏi phải có cách tiếp cận mang tính đạo đức, th́ cũng thế, phải kiếm t́m ư nghĩa và mục đích của truyền thông trong viễn tượng nhân học. Điều này có nghĩa là truyền thông có thể có giá trị văn minh hóa không những khi nó gia tăng khả năng thông tin, nhưng trên hết mọi sự là khi nó được tổ chức và định hướng theo tầm nh́n về con người và công ích phù hợp với những giá trị phổ quát. Không nhất thiết v́ các phương tiện truyền thông gia tăng khả năng kết nối và gieo rắc ư tưởng, nên nó thúc đẩy tự do và đem đến sự phát triển và dân chủ cho mọi người. Để đạt được những mục tiêu này, các phương tiện truyền thông cần tập chú vào việc cổ vơ phẩm giá của con người và các dân tộc, phải được thúc đẩy bởi bác ái và nhằm mục đích phục vụ sự thật, sự thiện, cũng như t́nh huynh đệ tự nhiên và siêu nhiên. Thật vậy, sự tự do của con người gắn kết cách nội tại với những giá trị cao cả này. Truyền thông có thể góp phần quan trọng vào việc gia tăng sự hiệp thông trong gia đ́nh nhân loại và đạo đức (ethos) trong xă hội, khi nó được sử dụng để thúc đẩy sự tham gia rộng răi vào việc kiếm t́m những ǵ là đúng đắn.

 

74.       Trong cuộc đấu tranh văn hóa ngày nay giữa sự thống trị của kỹ thuật và trách nhiệm luân lư của con người, lănh vực đạo đức sinh học là trận địa then chốt. Đó là nơi mà chính khả thể phát triển con người toàn diện bị đặt thành vấn đề ở mức độ căn để nhất. Trong lănh vực tế nhị và có tính quyết định này, câu hỏi nền tảng là: con người là sản phẩm của chính ḿnh hay nó lệ thuộc vào Thiên Chúa? Những khám phá khoa học trong lănh vực này và những khả năng can thiệp về mặt kỹ thuật đă tiến rất xa đến độ đ̣i chúng ta phải chọn lựa giữa hai loại lư luận: hoặc là lư luận mở ra với siêu việt hoặc là lư luận khép kín trong tính nội tại. Chúng ta đứng trước câu trả lời: hoặc thế này, hoặc thế khác. Tuy nhiên, thứ “lư tính” của hành động kỹ thuật chỉ tập trung vào chính ḿnh xem ra phi lư, bởi lẽ nó hàm chứa sự phủ nhận dứt khoát ư nghĩa và giá trị đời sống. Không phải ngẫu nhiên khi con người khép kín cánh cửa với siêu việt, th́ con người lại phải đối mặt với nỗi khó khăn là: làm sao hiện hữu lại có thể phát sinh từ hư vô, và làm sao trí tuệ lại được sinh ra từ ngẫu nhiên? [153]. Đối diện với những câu hỏi quyết liệt này, lư trí và đức tin có thể hỗ trợ lẫn nhau. Và chỉ như thế mới có thể cứu độ con người. Chỉ hoàn toàn cậy dựa vào kỹ thuật, lư trí không có đức tin sẽ tan biến trong ảo tưởng về sự toàn năng của nó. Đức tin không có lư trí sẽ có nguy cơ trở thành xa lạ với đời sống thường ngày của con người [154].

 

75.       Đức Phaolô VI đă nhận ra và chú tâm đến chiều kích toàn cầu của vấn đề xă hội. Bước theo sự hướng dẫn của ngài, ngày nay chúng ta cần khẳng định rằng vấn đề xă hội đă trở thành vấn đề nhân học ở tận căn, theo nghĩa là vấn đề này không chỉ liên quan đến câu hỏi sự sống đă được thụ thai như thế nào, nhưng c̣n là câu hỏi người ta có thể thao túng sự sống như thế nào, khi mà kỹ thuật sinh học ngày càng đặt sự sống dưới bàn tay con người. Thụ tinh trong ống nghiệm, nghiên cứu phôi, khả năng tạo ra những nhân bản và phôi người: tất cả những điều đó đang phát triển và được cổ xúy trong nền văn hóa ngày nay, nền văn hóa tin rằng đă làm chủ được mọi mầu nhiệm bởi v́ nguồn cội sự sống đă nằm trong tay ta. Ở đây ta thấy rơ nhất sự thống trị của kỹ thuật. Trong loại văn hóa này, ư thức được mời gọi cứ làm theo những khả năng của kỹ thuật. Tuy nhiên chúng ta đừng nên coi thường viễn cảnh đáng ngại đe dọa tương lai của chúng ta, cũng đừng coi thường quyền lực của những phương tiện mới mà “nền văn hóa” sự chết đang có trong tay. Thêm vào cơn dịch bi thảm và rộng khắp của nạn phá thai, có lẽ trong tương lai chúng ta sẽ phải thêm vào điều này – và quả thật nó đă được gieo mầm từ hôm nay – là việc lên chương tŕnh một cách hệ thống cho việc sinh sản. Mặt khác, năo trạng ủng hộ chủ trương an tử cũng đang xâm nhập, hiểu như sự khẳng định quyền kiểm soát trên sự sống trong những trường hợp bị cho là không đáng sống nữa. Ẩn dưới tất cả những cảnh trên là những quan điểm văn hóa chối từ phẩm giá con người. Đến lượt nó, những thực hành nói trên lại cổ vơ cho quan niệm duy vật và máy móc về con người. Ai có thể đo lường được những hậu quả tai hại của thứ năo trạng này đối với việc phát triển? Làm sao chúng ta không khỏi ngạc nhiên về sự dửng dưng trước những hoàn cảnh bi thảm của con người, khi mà sự dửng dưng ấy đă ảnh hưởng đến cả thái độ của ta trước ranh giới giữa cái “là người” và cái “không phải là người”. Điều lạ lùng là người ta rất độc đoán và kỳ thị trong việc quyết định xem đâu là điều đáng kính trọng và đề cao. Những chuyện không đáng ǵ th́ làm ầm ĩ lên, c̣n những bất công trầm trọng lại dễ dàng được dung thứ. Trong khi người nghèo trên thế giới tiếp tục gơ cửa người giàu, th́ thế giới giàu có lại có nguy cơ không c̣n nghe thấy tiếng gơ cửa đó nữa, do thứ lương tâm không c̣n phân biệt được cái ǵ là của con người. Thiên Chúa mạc khải con người cho chính họ; lư trí và đức tin có thể sát cánh trong việc chứng minh cho chúng ta biết điều ǵ là tốt, miễn là chúng ta muốn thấy; luật tự nhiên là nơi mà Lư trí sáng tạo chiếu soi, luật ấy mạc khải sự vĩ đại của chúng ta nhưng cũng cho ta thấy sự khốn cùng của con người khi nó không nhận biết tiếng gọi của sự thật luân lư.

 

76.       Một khía cạnh của năo trạng kỹ thuật đương đại là khuynh hướng xem những vấn đề và cảm xúc của đời sống nội tâm thuần túy từ quan điểm tâm lư, kể cả giảm thiểu thành vấn đề của năo bộ. Theo đó, nội giới của con người bị tước đoạt ư nghĩa và dần dần nhận thức của chúng ta về chiều sâu hữu thể của linh hồn bị mất đi, như các thánh đă chứng minh. Vấn đề phát triển liên kết chặt chẽ với quan niệm của chúng ta về linh hồn con người, khi ta giảm thiểu cái ‘ngă’ thành tâm lư và lẫn lộn sức khỏe của linh hồn với sự thoải mái về cảm xúc. Sự đơn giản hóa quá mức này bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết sâu xa về đời sống thiêng liêng, và làm cho ta không nhận ra được điều này: sự phát triển của các cá nhân và các dân tộc tùy thuộc một phần vào việc giải quyết những vấn đề thiêng liêng. Phát triển không chỉ bao gồm sự tăng trưởng vật chất mà c̣n cả sự tăng trưởng thiêng liêng, v́ con người là “sự hợp nhất xác hồn” [156], được sinh ra từ t́nh yêu sáng tạo của Thiên Chúa và hướng đến sự sống vĩnh cửu. Con người phát triển khi lớn lên trong tinh thần, khi linh hồn nhận biết chính ḿnh và nhận biết những chân lư Thiên Chúa đă gieo trồng trong chiều sâu ḷng họ, khi họ bước vào cuộc đối thoại với chính ḿnh và với Thiên Chúa. Khi con người xa ĺa Thiên Chúa, họ sẽ khắc khoải băn khoăn măi. Sự tha hóa về mặt tâm lư và xă hội và nhiều thứ bệnh tâm thần đang phát triển trong những xă hội giàu có một phần là do những yếu tố thiêng liêng. Một xă hội phồn thịnh, phát triển cao về vật chất nhưng lại bóp nghẹt linh hồn, xă hội đó ở tự nó không thể dẫn đến phát triển đích thực. Những h́nh thức nô lệ mới như nghiện ngập và thiếu hy vọng mà nhiều người ngày nay đang rơi vào, không thể chỉ giải thích bằng lư do xă hội hay tâm lư nhưng chủ yếu là về thiêng liêng. Dù có vô vàn cách trị liệu vật lư và tâm lư, sự trống rỗng mà ở đó linh hồn cảm nhận ḿnh bị bỏ rơi, sẽ làm cho con người đau khổ. Không thể có sự phát triển toàn diện và công ích phổ quát nếu không quan tâm đến thiện hảo luân lư và tinh thần của con người, v́ con người là toàn thể xác và hồn.

 

77.       Sự thống trị của kỹ thuật làm cho con người không c̣n nhận biết những ǵ không thể giải thích chỉ bằng vật chất. Tuy nhiên tất cả mọi người đều có kinh nghiệm về những chiều kích phi vật chất và thiêng liêng của sự sống. Nhận thức không đơn thuần chỉ là một hành vi vật chất, v́ đối tượng được nhận biết luôn ẩn giấu cái ǵ đó vượt trên dữ kiện thường nghiệm. Mọi tri thức của chúng ta, dù là tri thức đơn giản nhất, cũng đều là một phép lạ nhỏ, bởi lẽ tri thức ấy không bao giờ được giải thích đầy đủ chỉ bằng những phương tiện vật chất mà ta sử dụng. Trong mọi sự thật đều có cái ǵ đó lớn hơn cái mà ta mong đợi, trong t́nh yêu mà ta đón nhận, luôn có một yếu tố khiến ta bất ngờ. Chúng ta sẽ không bao giờ hết ngỡ ngàng về những điều này. Trong mọi tri thức và mọi hành vi yêu thương, linh hồn luôn cảm nghiệm điều ǵ đó “lớn hơn”, xem ra giống như một món quà ta lănh nhận, hay một chiều cao ta được nâng lên. Sự phát triển của các cá nhân và các dân tộc cũng được đặt ở chiều cao như thế, nếu ta nhận ra rằng phải có chiều kích thiêng liêng th́ sự phát triển mới mang ư nghĩa đích thực. Điều đó đ̣i hỏi cặp mắt mới và con tim mới, có thể vượt lên trên tầm nh́n duy vật về những biến cố của nhân loại, có thể thoáng thấy cái “vượt lên trên” mà kỹ thuật không thể ban tặng. Bước theo con đường này, sẽ có thể theo đuổi sự phát triển con người toàn diện, sự phát triển có chuẩn mực định hướng là sức năng động của bác ái trong chân lư.

 

150.   Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum progressio, số 41; Công đồng Vaticanô II, Gaudium et spes, số 57

151.  Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II , Thông điệp Laborem exercens, số 5

152.   Đức Giáo Hoàng Phaolô VI , Tôngthư Octogesima adveniens, số 29

153.  Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI , Huấn thị choc ác thành viên Giáo hội Ư (19.10.2006) a.a.o 465-477

154.  Uỷ ban giáo lư đức tin , Chỉ thị về vài vấn đề Sinh học Dignitas personae (8.9.2008): AAS 100 (2008), 858-887.

155.   Đức Giáo Hoàng Phaolô VI , Thông điệp Populorum progressio , số 3

156.   Công đồng Vaticanô II , Gaudium et spes, số 14