CÁC TÍN ĐIỀU VỀ ĐỨC MẸ

 

Tín Điều là những học thuyết Công Giáo được Hội Thánh khẳng định là chân lư được mạc khải.  Tất cả mọi người Công Giáo phải tin những Tín Điều này:

Hoài nghi là coi thường chân lư được mạc khải hay ngoan cố chối từ chấp nhận nó. Lạc giáo là sự cố t́nh chối từ, sau khi rửa tội, một vài chân lư mà đức tin Công Giáo buộc phải tin, hoặc cố t́nh nghi ngờ những chân lư này; bội (phản) giáo là việc hoàn toàn chối từ đức tin Kitô Giáo; ly giáo là không tuân phục quyền bính ĐGH hoặc sự hiệp thông với các phần tử của Hội Thánh dưới quyền ngài.[GL 751] GLCG 2089

Các Tín Điều về Đức Mẹ

Tất cả những ǵ Hội Thánh muốn chúng ta tin về Đức Mẹ đều liên quan đến niềm tin vào Đức Giêsu Kitô và cần thiết cho phần rỗi chúng ta. Chúng ta tôn kính Mẹ Maria, không phải v́ Mẹ là Thiên Chúa, nhưng v́ Thiên Chúa muốn chúng ta kính trọng Mẹ như là một b́nh rất quư giá Chúa dùng để ban nguồn ơn cứu độ, là Đức Giêsu Kitô, cho chúng ta. Chúa Giêsu muốn chúng ta tôn kính Mẹ v́ Mẹ là Mẹ Người và Mẹ chúng ta. Mẹ là gương mẫu đức tin của chúng ta. Cuộc sống khiêm nhường, đạo đức, và vâng lời của Mẹ là gương cho chúng ta noi theo. Hội Thánh nh́n lên Mẹ v́ Hội Thánh tiếp tục sứ vụ của Mẹ là đem Chúa Giêsu đến cho thế gian và ban sự sống cho chi thể của nhiệm thể Chúa Giêsu.  Học thuyết về Đức Mẹ không phải những ǵ Công Giáo mới đặt ra như người Tin Lành kết tội. Đức tin vào bốn Tín Điều về Đức Mẹ đă được truyền dạy trong Hội Thánh từ thời s ơ khai và được tóm tắt bằng Kinh Kính Mẹ Thiên Chúa Cực Thánh của Thánh Ephraem xứ Syria (năm 306-373).

Ôi lạy Đức Nữ Đồng Trinh, Mẹ Thiên Chúa Tinh Tuyền, Đức Nữ rất vinh quang, rất nhân từ, cao sang hơn thiên đàng, trong trắng hơn ánh quang mặt trời, hơn các tia sáng...  Mẹ cưu mang Thiên Chúa và Ngôi Lời theo nhân tính, mà vẫn giữ trọn đức đồng trinh trước khi sanh con, và vẫn c̣n là một trinh nữ sau khi sanh con.

1. Maria, Mẹ Thiên Chúa

Từ thời các thánh Tông Đồ, các Kitô hữu đă tin rằng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa Nhập Thể. V́ thế, Người là Ngôi Hai Thiên Chúa với hai bản tính. Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật. Bản tính Thiên Chúa và loài người của Người không thể tách rời nhau được. V́ Đức Kitô là Thiên Chúa làm người (Col 2:9, Ga 1:1,14), nếu Đức Mẹ là Mẹ Đức Kitô, th́ Đức Mẹ cũng đúng là Mẹ Thiên Chúa.  Công Đồng Êphêsô (năm 431) công bố rằng Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa để bảo đảm thiên tính của Đức Kitô, lúc đó đang bị Nestoriô, Giám Mục Constantinople đả kích.  Ông ta dạy rằng Đức Kitô có hai cá thể với hai bản tính khác nhau, và Mẹ Maria chỉ là mẹ của con người Đức Kitô mà thôi.

Lutherô, Calvin, và những nhà sáng lập các giáo phái Tin Lành chính đều đồng ư về tín điều này.

Nhưng Đức Mẹ cũng là một tạo vật như chúng ta, và đạo Công Giáo không thờ Đức Mẹ như một nữ thần.  Chúng ta kính Đức Mẹ v́ vinh dự khôn lường của Mẹ là được Thiên Chúa chọn để cưu mang và nuôi dưỡng Ngôi Lời Nhập Thể.

Martinô Lutherô, người sáng lập đạo Tin Lành viết:

“Thật là chính đáng khi gọi Mẹ không những là mẹ con người, nhưng c̣n là Mẹ Thiên Chúa… Chắc chắn rằng Đức Maria là Mẹ của Thiên Chúa thật.” Jaroslav Pelikan, ed., Luther’s Works, (St. Louis: Concordia), 24:107.

“Thiên Chúa được sinh ra... Hài Nhi uống sữa của Mẹ ḿnh là Đấng có từ muôn thủa, Người có trước khi có thế gian, và Người tạo dựng trời, đất… Hai bản tính này kết hợp quá mật thiết với nhau đến nỗi chỉ có một Thiên Chúa và Chúa, mà Mẹ Maria cho Thiên Chúa bú, tắm rửa cho Thiên Chúa, ru Người, và bồng bế Người.” Luther’s Works, 22:492-493.

“Loài người đă gồm tóm tất cả vinh quang Mẹ trong một câu: Mẹ Thiên Chúa. Không ai có thể nói ǵ cao sang hơn về Mẹ, dù người đó có nhiều lưỡi như lá trên cây.” (Commentary on the Magnificat).

“Có phải chỉ một ḿnh Đức Kitô được tôn thờ không? Chẳng lẽ Mẹ Thiên Chúa Chí Thánh không được tôn vinh sao? Đây là Người Phụ Nữ đạp dập đầu con rắn. Xin hăy nghe lời chúng con, v́ Con Mẹ không từ chối Mẹ điều ǵ.” Luther’s last sermon on January 17, 1546, shortly before his death.

“Chúng ta là con của Mẹ Maria; chúng ta có thể nghe bài hát của các thiên sứ!” (Luther’s Works, 11:224:8).

“Đức Maria là Mẹ Chúa Giêsu và Mẹ mỗi người chúng ta. Nếu Chúa Giêsu là của chúng ta th́ chúng ta phải ở cùng Người, và Người ở đâu th́ chúng ta cũng ở đó, và tất cả những ǵ của Người cũng phải là của chúng ta, và như vậy, Mẹ Người cũng là Mẹ chúng ta.” Luther’s Works, 29:655:26-656:7.

2. Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội

Người Công Giáo tin rằng Thiên Chúa cứu độ Đức Mẹ cách đặc biệt bằng cách ngăn ngừa Mẹ khỏi tội lỗi, v́ vai tṛ quá đặc biệt của Mẹ trong chương tŕnh cứu độ của Ngài (STK 3:15), và sự liên hệ của Mẹ với Đức Chúa Con (Mẹ) và Chúa Thánh Thần (Hiền Thê) (Lc 1:35).  Tổng thiên sứ Gabriel  gọi Mẹ là được sủng ái hay đầy ơn phúc trong Lc 1:28. Tiếng Hy Lạp, κεχαριτωμενη (kecharitomene), có nghiă “hoàn toàn, hoàn hảo, được ban đầy ơn Chúa.” (Người Tin Lành cho rằng dịch đầy ơn phúc la sai. Nhưng trong bản dịch NIV, TĐCV 6:8, họ dịch đầy ơn phúc của Thiên Chúa cho Stêphanô). V́ lư do này và nhiều lư do khác, Người Công Giáo tin rằng Mẹ không vướng mắc tội lỗi từ khi thụ thai và suốt cả đời Mẹ. Ngay cả Lutherô cũng đồng ư!

“... vậy khi linh hồn được tạo thành, Mẹ cùng một lúc được sạch tội tổ tông....  Và như thế, ngay ngay từ giây phút đầu tiên của cuộc đời, Mẹ đă không vướng mắc tội lỗi”. (Luther's Works, 4, 694)

Các thần học gia thời trung cổ đưa ra một h́nh ảnh diễn tả Đức Mẹ cũng được cứu chuộc giống chúng ta ra sao (Lc 1:47), nhưng bằng cách khác.  Hăy tưởng tượng một hố sâu trên con đường ṃn trong rừng, tượng trưng cho t́nh trạng sa lầy trong tội lỗi.  Tất cả chúng ta đều rơi vào hố đó, và đắm ḿnh trong bùn.  Nhưng Thiên Chúa sẽ kéo chúng ta ra khỏi đó và cứu chúng ta, với điều kiện là chúng ta muốn.  Với Đức Mẹ, Thiên Chúa lại làm cách khác. Ngài không để cho Mẹ rơi vào hố này (như chúng ta).  Nhưng trong cả hai trường hợp, qua sự ngăn ngừa hay qua sự giải thoát, th́ thật sự chỉ ḿnh Thiên Chúa cứu chúng ta được mà thôi.  Đức Mẹ được như vậy v́ ơn sủng nhưng không của Thiên Chúa ban, không phải v́ công lao của Mẹ, không phải v́ sự siêu phàm Mẹ có mà không bắt nguồn từ Thiên Chúa.

Trong Cựu Ước, Ḥm Bia Thánh, Đền Thờ, và Lều Tạm đều ám chỉ Đức Mẹ, Ḥm Bia Sống của Giao Ước Mới, Đền Thờ Sống Động của Chúa Thánh Thần, và Nhà Tạm Mới của Thánh Thể.  Càng gần Thiên Chúa, con người càng phải thánh thiện hơn (XH 3:5, TL 23:14).  Sự hiện diện của Thiên Chúa san sẻ sự thánh thiện (1 Cor 3:13-17, 1 Ga 3:3-9).  Thầy cả Thượng Phẩm của dân Do Thái chỉ được vào “cung Thánh” nơi Lều Tạm hay Đền Thờ một năm một lần, nếu không sẽ chết (Lev 16:2-4,13).  Ḥm Bia Thánh cũng rất thánh đến nỗi chỉ một ít người được chạm đến (DS 4:15, 2 Sam 6:2-7).  Kinh Thánh so sánh Đức Mẹ với Ḥm Bia Thánh (Lc 1:35 & XH 40:34-8 / Lc 1:44 & 2 Sam 6:14-16 / Lc 1:43 & 2 Sam 6:9).  Nếu những vật vô tri như thế c̣n trở nên “thánh” v́ gần Thiên Chúa, th́ Mẹ Maria, Đấng cưu mang Thiên Chúa c̣n thánh thiện hơn thế nào?  Người Tin Lành thường không hiểu được quan niệm này v́ quan điểm sai lầm của họ về sự công chính hóa bề ngoài theo pháp luật không nhất thiết đưa đến sự thánh thiện thực sự.

Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội được cử hành ở Đông Phương từ thế kỷ thứ 7 và ở Tây Phương từ thế kỷ thứ 9.  Hầu hết các Giáo Phụ và các thánh (thánh Irênê, thánh Ephraem, thánh Ambrôsiô, thánh Augustinô, thánh Anselmô...)  đều tin rằng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.  Nhưng trong thời Trung Cổ, thánh Tôma Aquinô, thánh Bônaventura và thánh Albertô Cả không công nhận học thuyết Vô Nhiễm v́ các ngài không giải thích được sự liên quan giữa học thuyết này và Tội Tổ Tông và công tŕnh cứu độ chung của Đức Kitô.  Nhưng các ngài rất tôn sùng Đức Mẹ và tin rằng Chúa giữ ǵn Mẹ khỏi mọi tội lỗi suốt cả đời.  Vấn đề này được giải quyết bởi các thần học gia thuộc ḍng Phanxicô vào thế kỷ thứ 15 bằng cách giải thích rằng Sự Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ được thể hiện qua việc Thiên Chúa tiền đặt ơn cứu độ của Đức Kitô cho Mẹ.

Hầu hết các nước Tây Phương, Anh, Pháp, Đức, Ư và Tây ban Nha mừng Lễ Mẹ Vô Nhiễm từ thế kỷ 11 và 12.  Đến thế kỷ thứ 15, toàn thể Hội Thánh mừng lễ này.

Ngày 8 tháng 12 năm 1854, ĐTC Piô IX công bố rằng

“Đức Nữ Đồng Trinh Maria, ngay từ giây phút đầu tiên chịu thai, nhờ ơn riêng và đặc quyền của Thiên Chúa Toàn Năng, qua việc thấy trước công nghiệp của Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc loài người, đă được ǵn giữ khỏi mọi tỳ vết của Tôi Nguyên Tổ.” (Ineffabilis Deus, 29).

Để chuẩn y Tín Điều này, Mẹ đă hiện ra cùng thánh Bernadette tại Lộ Đức vào năm 1858 và cho thánh nữ biết rằng Mẹ là “Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.”

Hầu hết người Tin Lành ngày nay không tin vào tín điều Vô Nhiễm, nhưng Lutherô đă viết:

“….cho nên khi linh hồn được thấm nhập, cùng một lúc đó Mẹ được tẩy sạch tội tổ tông……….. Và như vậy, ngay trong giây phút Mẹ bắt đầu cuộc sống, Mẹ không có tội ǵ cả.” Luther's Works, 4, 694

“Thiên Chúa đă tạo nên linh hồn và thân xác Đức Trinh Nữ Maria đầy Thánh Thần, cho nên Mẹ không có tội lỗi ǵ cả.” Luther's Works, 52, 39

“Mẹ đầy ơn phúc, được công bố là hoàn toàn không vướng mằc tội lỗi… Ơn sủng của Thiên Chúa đổ tràn trên Mẹ mọi sự tốt đẹp và làm cho Mẹ tránh được mọi sự dữ…. Thiên Chúa ở với Mẹ, có nghĩa là mọi việc Mẹ làm hay đang làm giở dang là thuộc về Thiên Chúa, và là tác động của Thiên Chúa trong Mẹ.  Hơn nữa Thiên Chúa giữ ǵn và bảo vệ  Mẹ khỏi tất cả những ǵ có thể làm tổn hại Mẹ.” Luther’s Works, 43:40.

Nhiều người Tin Lành tin rằng việc sùng kính Đức Mẹ của Lutherô là một sai lầm của ông v́ ông ta chưa loại bỏ được tất cả những sai lầm của Công Giáo. Nếu như thế th́ làm sao họ có thể tin vào những học thuyết khác ông ta dạy như Duy Kinh Thánh và Duy Đức Tin, v́ ông ta cũng có thể sai lầm về những điều đó?

3. Trọn Đời Đồng Trinh

Hầu hết người Tin Lành ngày nay tin rằng Chúa Giêsu được sinh ra bởi một Trinh Nữ, nhưng không chấp nhận quan niệm là Đức Mẹ đồng trinh trọn đời.  Đây không phải là giáo huấn mới của Hội Thánh Công Giáo.  Niềm tin này bắt nguồn từ Tông truyền, và không trái nghịch với Thánh Kinh.  Các Giáo Phụ, ông Tertullian (213), ông Origen (232), Thánh Athanasiô (362), Thánh Gioan Chrysostom (370), Thánh Gregoy thành Nyssa (371), Thánh Giêrônimô (383), Thánh Ambrosiô (396), và Thánh Augustinô (401),.. cho đến các ông tổ Tin Lành, Lutherô và Calvin, đều công nhận rằng Đức Mẹ Trọn Đời Đồng Trinh.  Mặc dầu người Tin Lành thời nay cố gắng dùng Thánh Kinh để chứng minh rằng Đức Mẹ có con khác ngoài Chúa Giêsu.  Lư luận của họ không có ǵ mới cả.  Vào thế kỷ thứ tư, Helviđiô là người đầu tiên dùng cùng những câu Thánh Kinh (này) để đả kích giáo điều này, và thánh Giêrônimô, một học giả Kinh Thánh lừng danh, đă dùng Kinh Thánh để quở trách ông.  Thánh nhân gọi luận điệu của Helviđiô là mới lạ, ác tâm, và cả gan lăng mạ đức tin của cả nhân lọai. (Về Việc Trọn Đời Đồng Trinh cuả Đức Nữ Maria - chống lại Helvidiô).

Đây là những luận điệu họ đưa ra để chứng mimh rằng Đức Mẹ có nhiều con khác sau khi sinh Chúa Giêsu.

1)      Tân Ước nói về anh chị  em của Chúa Giêsu (Mt 13:55-56; Mk 6:3,4; Jn 2:12).

2)      Chữ “cho đến khi” và “con đầu ḷng” trong Matthêu 1:25.

 Họ đúng khi đưa ra việc Chúa Giêsu có anh chị em, nhưng họ không thể chứng minh được rằng những người này là con Đức Mẹ. Có 218 câu trong Tân Ước dùng chữ “anh em.”  Hầu hết dùng để chỉ bà con họ hàng. Có rất ít dùng cho anh em ruột như trường hợp thánh Gioan và Giacôbê. Trong trường hợp anh em Chúa Giêsu, nếu chúng ta đọc kỹ Tin Mừng, chúng ta sẽ khám phá ra rằng họ là anh em họ của Chúa Giêsu như được tả trong Mt 27:56; Mc 15:40, 16:1; Lc 24:10 và Ga 19:25.  Các câu này chứng minh rằng Giacôbê và Giuse là con của một bà Maria khác, vợ của ông Clêopa, chị em của Đức Mẹ.

Khi sứ thần Gabriel chào Mẹ, và loan báo việc Nhập Thể của Chúa Giêsu, Mẹ trả lời; “Chuyện đó xảy đến sao được, v́ tôi không có quan hệ với người nam?” Nếu Mẹ không tính giữ ḿnh trọn đời đồng trinh th́ Mẹ đă không ngạc nhiên khi nghe báo là sẽ có con.

Khi Đức Chúa Giêsu lên Đền Thánh với Cha Mẹ Người lúc 12 tuổi, Tin Mừng không nói ǵ đến anh chị em của Chúa cả, nhưng nói rằng “hai ông bà t́m Người trong số bà con thân quyến.” (Lc 2:44).

Sau hết, trên Thánh Giá, Chúa Giêsu gửi Đức Mẹ cho thánh Gioan và “từ lúc đó, người môn đệ này đem Bà về nhà ḿnh” (Ga 19:27).  Nếu Đức Maria có các con khác th́ tại sao thánh Gioan phải săn sóc cho Mẹ sau khi Chúa chịu chết?

Chữ “cho đến khi” trong câu “Ông không có liên hệ vợ chồng với bà cho đến khi bà sinh một con trai” chỉ nói rằng hai người không có liên hệ tính dục cho đến khi Chúa Giêsu sinh ra, chứ không nói rằng sau đó họ có liên hệ tính dục. Câu này không chứng minh, cũng không chối bỏ việc Đức Mẹ trọn đời đồng trinh. Cùng một lư luận có thể được dùng cho chữ “con đầu ḷng.” Theo Lề Luật, “con đầu ḷng là đứa con mở bụng mẹ” (XH 13:2).  Đứa con này phải được thánh hiến cho Thiên Chúa, bất kể sau đó nó có anh chị em khác hay không.

Thêm vào đó, tuy Thánh Giuse thật sự là chồng Đức Mẹ theo Luật Môsên nhưng Mẹ đă chịu thai bởi Phép Chúa Thánh Thần trước khi thánh Giuse chính thức trở nên chồng của Mẹ theo Lề Luật và chương tŕnh của Thiên Chúa. Khi ấy than xác Mẹ trở nên Đền Thờ Thiên Chúa. Một khi Mẹ đă trở nên Đền Thờ Chúa Ba Ngôi, Ḥm bia của Giao Ước Mới, th́ không thể được dùng để sinh các con khác, hay có liên hệ tính dục với một người đàn ông khác mà không phạm đến Sự Thánh Thiện của vai tṛ của Mẹ.

Ông Martinô Lutherô gọi tín điều này là một điều luật của đức tin.

“Việc Đức Maria là Mẹ Chúa và vẫn c̣n đồng trinh là một điều luật của đức tin” Luther's Works,11, 319

“… biết rằng Mẹ sắp trở thành Mẹ của Con Thiên Chúa, Mẹ không ước mong thành mẹ của người phàm, mà muốn ở măi trong t́nh trạng ơn thánh đó.” Luther's Works,11, 320

“Chắc chắn rằng không ai mạnh sức đến nỗi, dựa theo sự thông minh của ḿnh, không theo Kinh Thánh, mà dám khư khư rằng Mẹ không c̣n đồng trinh”. Luther's Works, 11, 320

Ông Gioan Calvin viết:

“Helviđiô [một người lạc giáo vào thế kỷ thứ tư] đă tự chứng tỏ sự ngu dốt của ḿnh, khi nói rằng Đức Maria có vài người con, v́ ở trong vài đoạn (Thánh Kinh) có đề cập đến anh em của Đức Kitô. Quoted in Leeming, 9.

“Có môt vài kẻ muốn dựa vào câu này trong Mathêu 1:25, rằng Đức Maria có các con khác ngoài Con Thiên Chúa, và thánh Giuse sau đó có ăn ở với Mẹ; nhưng lư luận này thật điên rồ biết bao! V́ tác giả Tin Mừng không muốn viết về những ǵ xảy ra sau đó; mà chỉ muốn làm sáng tỏ đức vâng lời của thánh Giuse, và cho thấy rằng thánh Giuse đă được đảm bảo chắc chắn rằng Thiên Chúa đă sai thiên sứ của Ngài đến cùng Mẹ Maria. Cho nên ông đă không bao giờ ăn ở với Mẹ hay chung chạ với Mẹ… Và ngoài chuyện này, Chúa Giêsu của chúng ta được gọi là con đầu ḷng không phải v́ có con thứ hai hay ba, nhưng v́ tác giả Tin Mừng tôn trọng tiền lệ. Kinh Thánh như vậy nói đến việc đặt tên người con đầu ḷng dù có hay không có vấn đề con thứ.” Calvin, Sermon on Mt 1:22-25, (published in 1562).

Và Ulrich Zwingli viết:

“Tôi tin chắc rằng theo lời của Tin Mừng th́ một trinh nữ vẹn sạch đem lại cho chúng ta Con Thiên Chúa mà vẫn c̣n là một trinh nữ trong sạch và vẹn toàn lúc sinh con và sau khi sinh con, cho đến đời đời.  Tôi tin tưởng chắc chắn rằng Mẹ đă được Thiên Chúa nâng lên để hưởng niềm vui đời đời trên tất cả tạo vật, kể các các thánh và các thiên sứ. “Mary and the Protestants,” Marian Studies 83, April 1961, 1.

ĐTC Siriciô I (392), Leô I (450), và Công Đồng Constantinople I (553) đều nói về Đức Mẹ Trọn Đời Đồng Trinh.  Sau cùng Công đồng Lateran (649) chính thức xác nhận là Tín Điều ở Điều Thứ Ba của Công Đồng này.

4. Mẹ Hồn Xác Lên Trời

Ngay từ thời các thánh Tông Đồ, các Kitô hữu tin rằng Đức Mẹ được đưa về Trời sau khi măn phần.  Người Công Giáo, Chính Thống, và các ông tổ Tin Lành đều tin tín điều này.

Tài liệu sớm nhất nói đến việc Mông Triệu là De Obito S. Dominae, được viết vào thế kỷ thứ tư hay thứ năm, và được cho là viết bởi thánh Gioan. Ở Đông Phương, các thánh Andrê đảo Crete, thánh Gioan Damescene, thánh Modestô thành Giêrusalem, và nhiều thánh khác đều nhắc đến việc Mẹ Lên Trời.  Bằng chứng hùng hồn nhất của việc Mẹ Lên Trời là “Ngôi Mộ Trống”.  Năm 451, tại Công đồng Chalcedon, Hoàng đế Marcianô muốn làm chủ di hài của Mẹ, thánh Juvenal, Giám Mục Giêrusalem, thưa với ông rằng: “Đức Mẹ tạ thế trước sự hiện diện của các thánh Tông Đồ, trừ thánh Tôma.  Khi thánh Tôma yêu cầu mở mộ Mẹ th́ chỉ có ngôi mộ trống;  từ đó, các thánh Tông Đồ kết luận rằng xác Mẹ đă được đưa lên Trời.”

Lễ Đức Mẹ Mông Triệu được cử hành tại Palestine trước năm 500.  Khoảng năm 700, lễ này là một trong những lễ chính tại Rôma, và cũng là Lễ Buộc.

Ngày 1 thánh 11, năm 1950, ĐTC Piô XII công bố Tín Điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.

Như đă được dạy trong Thánh Kinh rằng chết là hậu quả của tội lỗi (Rom 5:12).  V́ việc xác phàm bị tan rữa là hậu quả của tôi lỗi (TV 16:10, STK 3:19), nên sự không có tội làm cho thân xác được sống lại sau khi chết (như việc Mẹ Lên Trời).  Mẹ Maria chia sẻ với Con Mẹ ơn chiến thắng tội lỗi, sự chết, và ma quỷ (Dt 2:14-15), như đă nói trước trong sách Sáng Thế Kư 3:15.  V́ chúng ta Mẹ mà là “hoa quả đầu mùa” của Công Tŕnh của Đức Kitô, là Đấng chung cuộc sẽ chiến thắng sự chết và làm cho các thánh có một thân xác vinh hiển và không hay chết.  Điều này áp dụng cho Đức Mẹ thật là hợp lư v́ Mẹ là Mẹ của Con Thiên Chúa - để “biểu tượng” thế giới được cứu độ sẽ đến qua việc Vô Nhiễm Nguyên Tội và Hồn Xác Lên Trời của Mẹ.  Thánh Kinh nói đến những biến cố tương tự như Mông Triệu: Enoch (STK 5:24; DT 11:5), Elijah (2CV 2:11), các người lành sống lại sau khi Chúa Giêsu chịu đóng đanh (Mt 27:52-3).  Thật là phi lư và không chấp nhận được khi quả quyết rằng một sự kiện không xảy ra v́ không được kể lại trong Thánh Kinh.  Điều này cũng điên rồ như nói rằng Chúa Giêsu không làm một phép lạ nào khác ngoài những phép lạ t́m thấy trong Thánh Kinh (Xem Ga 20:30, 21:25).  Nếu việc Đức Mẹ Lên Trời không quá sức khác biệt với những ǵ xảy ra trong Thánh Kinh, th́ những  quan điểm thần học liên hệ được t́m thấy cách gián tiếp  từ Thánh Kinh, và được minh xác bởi sự chứng nhận của Truyền Thống Kitô Giáo thời sơ khai, th́ tin vào điều này không có ǵ gọi là “thờ thần tượng” hay “thiếu căn bản Thánh Kinh”.

Để kết thúc, tôi xin dùng lời của Mục Sư Charles Dickson, một Mục Sư phái Lutherô trong 30 năm qua rằng:

“Chúng ta có thể lập luận cách hợp lư rằng tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Nữ Trinh Maria, thay v́ làm mờ trọng tâm của công tŕnh Cứu Độ của Đức Kitô, th́ thực sự làm nổi bật các tín lư căn bản có thể được mọi Kitô hữu chấp nhận.

Hiểu rơ giá trị cuả Thánh Mẫu Học qua nhăn quan chính xác là nhận ra sự liên hệ quan trọng của nó với nhân chủng học, Kitô học và Cứu Độ học. Thánh Kinh, Thánh Truyền và lư trí là những lư luận cấp bách cho toàn thể cộng đồng Kitô hữu để suy nghĩ lại về đề tài này và nhận ra sự quan trọng của tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội đối với mọi Kitô hữu.  Nhờ việc mở ra hay mở lại đầu óc chúng ta, tùy trường hợp, chúng ta có thể thiết lập những con đường truyền thông mới trong việc t́m kiếm sự hợp nhất Kitô Giáo lớn lao và ư nghĩa hơn.

(Tiến sĩ Dickson là một Mục Sư giáo phái Lutherô và đă làm mục sư 30 năm qua.  Đọan này được trích trong bài Vô Nhiễm Nguyên Tội  được in trong The Catholic Answer Tháng 11/Tháng 12, năm 1996.)

Bài này dùng nhiều tài liệu, nhất là dựa theo bài Catholic Marian Doctrines: A Brief Biblical Primer của Dave Armstrong,  Một Mục Sư Tin Lành trở lại Công Giáo.  Những bài viết của ông để bênh vực Đạo Công Giáo được t́m thấy trong website:  http://ic.net/~erasmus

GLV Phaolô Phạm Xuân Khôi