Lm. Inhaxiô Hồ Thông
"Lễ
Thánh Gia" đă được Đức Thánh Cha Lê-on
XIII thiết lập và được Đức Thánh Cha
Bơ-noa XV phổ biến cho toàn thể Giáo Hội vào
năm 1921. Trước đó, lễ nầy
được ấn định vào Chúa Nhật sau
"lễ Hiển Linh". Để tránh
trùng với "lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa",
Công Đồng Va-ti-can II đă dời "lễ Thánh
Gia" vào ngay sau "lễ Giáng Sinh".
Lễ Thánh Gia nhắc chúng ta nhớ đến
những năm tháng âm thầm của Đức Giê-su trong
suốt thời thơ ấu và trưởng thành
dưới mái ấm gia đ́nh Na-da-rét, mẫu gương
của mọi gia đ́nh.
Hc 3: 2-6,
12-14.
Nhà
hiền triết Si-rác khuyên bảo con cái phải có ḷng
thảo kính đối với các bậc song thân của
ḿnh, đặc biệt là cha mẹ già yếu.
Cl 3: 12-21.
Thánh
Phao-lô mời gọi các tín hữu Cô-lô-sê thực hành trong
đời sống cộng đoàn và trong đời
sống gia đ́nh những nhân đức "thương
xót, nhân hậu, khiêm nhu, hiền từ và
nhẫn nại", đặc biệt là "yêu
thương đó là mối dây tuyệt hảo liên
kết" mọi thành viên nên một.
Lc 2: 22-40.
Tin
Mừng Lu-ca tường thuật lễ thanh tẩy
Đức Ma-ri-a và lễ thánh hiến Hài Nhi
Giê-su ở Đền Thánh, đoạn gợi lên một
cách ngắn gọn thời thơ ấu của Đức
Giê-su ở dưới mái ấm gia đ́nh Na-da-rét.
BÀI ĐỌC I (Hc 3: 2-6, 12-14)
Si-rac là một hiền nhân
Do thái vào đầu thế kỷ thứ hai trước
Công Nguyên. Ông mở trường dạy
học và ghi lại vốn kinh nghiệm và những gẫm
suy thế sự của ḿnh. Tác phẩm của ông
được viết bằng tiếng Do thái, sau đó
được cháu nội của ông dịch ra tiếng Hy
lạp vào năm 130 trước Công Nguyên.
Tác phẩm của ông là sách
đạo đức về cách ăn
nếp ở thực tiển. Ông viết tác phẩm
nầy v́ muốn trung thành với niềm tin của cha ông
ḿnh và không muốn ḿnh bị ảnh hưởng bởi
văn hóa của dân ngoại chung quanh và
đặc biệt bởi những quyến rủ của
sự khôn ngoan Hy lạp. Sách ông bàn đến
nhiều đề tài rất khác nhau. Sách
được điểm xuyết bằng những câu
châm ngôn dể nhớ và được Do thái giáo mến
chuộng. Giáo Hội cũng xem sách
nầy như Sách Thánh của ḿnh.
Tác giả cho
thấy ông rất gắn bó với Lề Luật. Theo ông, việc thực hành Lề Luật là
nguồn mạch khôn ngoan. Trong chương 3, hiền
nhân Si-rác triển khai ḷng thảo kính của phận làm con
đối với cha mẹ ḿnh, một trong Mười
Giới Răn: "Ngươi hăy thảo kính cha mẹ,
để được sống lâu trên đất mà
Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho
ngươi" (Xh 20: 12; Đnl 5: 16).
1. Thảo kính cha mẹ,
đạo làm người.
Bổn
phận thảo kính đối với cha mẹ nhất là
vào lúc các ngài già yếu thuộc về những truyền
thống rất lâu đời của các nền văn minh,
được các tôn giáo lẫn triết học ca ngợi.
Chúng ta có thể sánh ví những lời khuyên bảo của
hiền nhân Cựu Ước nầy với nhiều
bản văn của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy
lạp xưa. Ở Trung Quốc cũng
như ở Ấn độ, bổn phận đối
với cha mẹ trở thành một thứ đạo
hiếu đ̣i buộc hết mọi người.
Ở Hy-lạp, xin được trích dẫn mẫu
gương của hiền triết Socrate khuyên các con
của ḿnh phải bày tỏ tấm ḷng hiếu thảo
với mẹ của ông, v́ t́nh sâu nghĩa nặng của
cha mẹ đối với ḿnh (Xénophon, Les Mémorables, II,
2). Ở Việt
2. Thảo kính cha mẹ,
đạo Thiên Chúa.
Giới răn thảo kính
cha mẹ không chỉ thuộc đạo tự nhiên,
nhưng cũng c̣n chương tŕnh của Đấng
Tạo Hóa đối với con người. Cuộc sống
gia đ́nh ở Ít-ra-en được ghi khắc trong
chiều kích siêu nhiên: không chỉ lưu truyền ṇi gióng
của tổ phụ Áp-ra-ham, mà c̣n truyền đạt
từ thế hệ này đến thế hệ khác
niềm tin của cha ông vào một Thiên Chúa duy nhất,
Đấng đă tự mặc khải ḿnh ra. Chính vị Thiên Chúa nầy "muốn cho con cái
thảo kính cha và phục quyền mẹ"; chính Ngài
chúc phúc cho con cái nào giữ trọn đạo hiếu
với cha mẹ của ḿnh.
"Kẻ
kính cha sẽ được trường thọ",
đây là lời chúc phúc truyền thống nhất.
Cuộc sống trường thọ như phần
thưởng cho tấm ḷng đạo hiếu đối
với cha mẹ được đánh giá cao nhất vào
thời kỳ những niềm hy vọng ở bên kia nấm mồ chưa được
biết đến (đó là viễn cảnh niềm tin vào
thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên).
C̣n ngạc nhiên hơn
nữa đối với lời hứa "Kẻ
thờ cha th́ được thứ tha tội lỗi",
cũng như "người kính mẹ khác nào kẻ
tích trữ kho tàng" , nghĩa là lập công tích
đức để được Thiên Chúa thứ tha
tội lỗi của ḿnh). Cách nói nầy tương
tự với câu cuối của đoạn trích hôm nay: "V́
việc hiếu nghĩa đối với cha sẽ không
bị quên lăng, và sẽ đền bù tội lỗi cho
con".
Trong Do thái giáo sau thời
kỳ lưu đày Ba-by-lon, người ta rất nhạy
bén trước tội lỗi và bận ḷng thanh luyện
nội tâm. Hiền nhân Si-rác thuộc vào những thế
hệ nầy: gẫm suy giáo huấn của các ngôn sứ. Đến phiên ḿnh, ông ca tụng việc thực
hành đức hạnh hơn việc tế tự
thuần túy bên ngoài. Theo đường
hướng nầy, ông khai triển rất xa và ở
đây ông đánh giá việc thảo kính cha mẹ như hy
tế xá tội. Tuy nhiên, chúng ta nhận ra ở
đây một sự khác biệt: trong khi các ngôn sứ
rất bận ḷng đến ơn cứu độ
của toàn thể dân chúng, th́ các hiền nhân quan tâm
nhiều hơn đến ơn cứu độ cá nhân.
Cuối cùng
chúng ta ghi nhận rằng nhà hiền triết Si-rác cẩn
trọng trích dẫn bổn phận đối với cha
và bổn phận đối với mẹ gần như
song song với nhau. Phải nói thật
rằng điều nầy rất hiếm trong Cựu
Ước ở đó người cha thường
chiếm vai tṛ gần như độc tôn.
BÀI ĐỌC II (Cl 3:
12-21)
Như thư gởi cho các
tín hữu Ê-phê-sô, thư gởi cho các tín hữu Cô-lô-sê
đă được thánh Phao-lô viết trong khi thánh nhân
bị giam cầm ở Rô-ma vào khoảng những năm
61-63 sau Công Nguyên, v́ thế nội dung của hai bức
thư nầy rất gần nhau.
Thành phố
Cô-lô-sê, được định vị ở miền
Tiểu Á, đă khai sinh một cộng đoàn Ki tô hữu.
Cộng đoàn nầy được Epaphras,
bạn đồng hành đồng thời cũng là môn
đệ của thánh Phao-lô, thiết lập.
Những sai lạc đạo lư, những biện luận
về quyền năng của thiên thần, những
thực hành khổ chế, những khuynh hướng Do
thái giáo gây nguy hiểm cho đức tin của cộng
đoàn non trẻ nầy. Thánh Phao-lô hiện đang bị
giam cầm, ngài không thể đến tận nơi
được; v́ thế ngài gởi bức thư
nầy cho các tín hữu Cô-lô-sê. Thánh nhân tập trung giáo
huấn của ḿnh vào Đức Ki tô và quy chiếu
cuộc sống Ki tô hữu vào điều cốt lơi:
sống hiệp nhất với Đức Ki tô, noi
gương Đức Ki tô, thực hành các nhân đức,
đặc biệt là đức ái.
Phụng vụ đề
nghị cho chúng ta đoạn trích của bức thư này và mời gọi chúng ta đọc
nó trong ư hướng của ngày lễ hôm nay, đời
sống gia đ́nh: "Anh em hăy có ḷng thương xót,
nhân hậu, khiêm nhu, hiền từ và nhẫn nại. Hăy chịu đựng lẫn nhau và tha thứ cho
nhau".
Đức ái Ki tô giáo là
nguồn mạch của sự hiệp nhất và b́nh an trong đời sống cộng đoàn,
huống ǵ trong đời sống gia đ́nh ở đó
t́nh yêu phải là mối dây liên kết tuyệt hảo. Theo
thói quen của ḿnh, thánh Phao-lô mời gọi tạ ơn và
cầu nguyện, nhất là cầu nguyện chung:
"Hăy đem hết ḷng biết ơn mà hát dâng Thiên Chúa
những bài thánh vịnh, những khúc thánh ca, do Chúa Thánh
Thần linh hứng", nghĩa là cầu nguyện
tự phát.
Đoạn
văn hoàn tất với vài lời khuyên bảo đặc
thù về bổn phận giữa vợ và chồng, cha
mẹ và con cái. Thánh nhân khai triển những
điều nầy trong thư gởi cho
các tín hữu Ê-phê-sô 5: 21-32.
TIN MỪNG (Lc 2: 22-40)
Vào ngày lễ Thánh Gia,
với đoạn Tin Mừng nầy, Giáo Hội
tưởng niệm hai nghi thức được cử
hành một lúc trong Đền Thánh Giê-ru-sa-lem: lễ thanh
tẩy Đức Ma-ri-a và lễ thánh hiến Đức
Giê-su, con trai đầu ḷng.
Chung quanh con trẻ sáu
tuần lễ nầy, chúng ta thấy Đức Ma-ri-a và
thánh Giu-se không chỉ "tuân theo
Luật Chúa truyền", nhưng cũng c̣n ngạc
nhiên bỡ ngỡ trước lời sấm của
cụ già Si-mê-on về Hài Nhi. Điều nầy cho
thấy thánh Giu-se đă nhận con trẻ nầy như
đứa con ruột thịt của ḿnh. Như vậy,
thánh Lu-ca vốn đă nhấn mạnh đức
đồng trinh của Đức Ma-ria, không ngần
ngại nói: "cha mẹ của Đức Giê-su".
Luật Mô-sê đ̣i buộc
người mẹ, sau bốn mươi ngày sinh con trai, sau tám mươi ngày sinh con gái, một hy
lễ thanh tẩy: một con chiên một năm, nhưng
nếu người nghèo, một đôi chim gáy hay một
cặp bồ câu non. V́ thế, của lễ
của Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se là của lễ
của người nghèo.
Lễ thánh hiến con trai
đầu ḷng là đ̣i buộc, nhưng không cần
phải lặn lội xa xôi đem con lên Giê-ru-sa-lem
để tiến dâng cho Chúa. Ở đây, thánh Lu-ca
đề cao ḷng đạo đức tuyệt vời
của Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se.
Vào giây phút Đức Giê-su,
hoàn toàn trong tay của con người, được
tiến dâng lên cho Cha Ngài, Thánh Thần linh hứng cho hai nhân
vật khả kính: cụ già Si-mê-in và bà ngôn sứ An-na,
mặc khải sứ mạng của Hài Nhi nầy.
1. Cụ già Si-mê-on.
Cụ già Si-mê-on mong chờ
"niềm an ủi của Ít-ra-en", đây là
tước hiệu chỉ Đấng Mê-si-a từ
thời ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, tức là
cuối thời lưu đày (Is 49: 13). Cụ nhận ra
ở nơi Hài Nhi nầy Đấng
Cứu Độ không chỉ của dân Ít-ra-en nhưng
của muôn dân nữa. Mặc Khải nầy
làm cho Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se ngạc nhiên và bỡ
ngỡ. Thánh ca của cụ già Si-mê-on
tiên báo về sứ mạng của Đức Giê-su sánh
đôi với thánh thi của ông Da-ca-ri-a tiên báo sứ
mạng của Gioan Tẩy giả. Thánh Lu-ca thiết
lập một sự song đối giữa cuộc
đời thơ ấu của hai con trẻ nầy.
"Ông
Si-mê-on chúc phúc cha hai ông bà", nhưng chỉ
hướng về một ḿnh Đức Ma-ria và nói với
chỉ một ḿnh Mẹ, bởi v́ thánh Giu-se qua đời
sớm nên không thể làm chứng về cuộc đời
công khai của Đức Giê-su. Cụ già Si-mê-on báo
trước cho Đức Ma-ri-a, mẹ của Hài Nhi, số phận đau khổ đang
chờ đợi Mẹ: Mẹ sẽ đau khổ v́ dân
Ít-ra-en bị chia rẻ về Con của Mẹ: tin vào Ngài
hay từ chối Ngài. Chúng ta có thể
đọc thấy trong lời tiên báo nầy viễn
cảnh núi Sọ chứ? Mạch văn
không đ̣i buộc điều nầy nhưng cũng không
tuyệt đối loại bỏ.
2. Bà ngôn sứ An-na.
Bà ngôn sứ An-na hân hoan vui
mừng về việc cứu thoát Giê-ru-sa-lem mà con trẻ
nầy sẽ là người kiến tạo. Bà
lớn tiếng loan báo cho hết mọi người.
Đây là sự ghi nhận
mang đậm nét của thánh kư Lu-ca: đối với
Lu-ca, Giê-ru-sa-lem là trung tâm Mặc Khải. Dung
mạo của hai ông bà lăo nầy đại diện
rất rơ nét nỗi mong chờ dài lâu của dân Ít-ra-en.
Thế nên, nầy đây hai người tôi tớ vĩ đại của Thiên Chúa đến
chứng thực rằng sứ vụ của dân Ít-ra-en
chuẩn bị chờ đón Đấng Mê-si-a đă
đến hồi kết thúc. Họ
được sánh ví như thời Cựu Ước
được hoàn tất để nhường chỗ
cho thời Tân Ước, kỷ nguyên Mê-si-a.
Trong số
bốn tác giả Tin Mừng, thánh Lu-ca là thánh kư nhấn
mạnh nhiều nhất những giai đoạn cứu
độ.
3. Lời kết.
Thánh Lu-ca
kết thúc đoạn Tin Mừng hôm nay với đời
sống ẩn dật của Đức Giê-su trong mái
ấm gia đ́nh Na-da-rét. Thánh kư ghi
nhận rất ngắn gọn cuộc đời thơ
ấu của Đức Giê-su. Lời nhận xét
nầy được đặt song đối với
lời nhận xét khác liên quan đến cuộc
đời thơ ấu của Gioan Tẩy giả: "Cậu
bé càng lớn lên th́ tinh thần càng vững mạnh"
(Lc1: 80) . Cũng như vậy về
cuộc đời thơ ấu của Đức Giê-su: "C̣n
Hài Nhi, ngày càng lớn lên, thêm vững
mạnh", tuy nhiên thánh kư c̣n thêm: "đầy khôn
ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Chúa".
Như vậy, Đức Giê-su th́ vĩ
đại hơn Gioan Tẩy giả ngay từ thời
thơ ấu.