Mẹ Maria Đấng duy nhất được lănh nhận ơn Tiền Cứu Rỗi (1)

 

Lời giới thiệu: Trong những ngày này, khi toàn thể nhân loại đang sửa soạn cử hành mầu nhiệm Giáng Sinh, vai tṛ quan trọng mang tính cách quyết định của Mẹ Maria trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa luôn được nhắc tới và đề cao. Thật vậy, nhờ hai tiếng „xin vâng“ hoàn toàn tự nguyện của Mẹ trước lời loan báo của Thiên sứ Gabriel, Ngôi Hai Thiên Chúa mới có thể xuống thế và nhập thể trong cung ḷng Mẹ để cứu chuộc nhân loại. Tuy nhiên, sự tuyển chọn Mẹ Maria làm Mẹ Chúa Cứu Thế đă từ đời đời nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa. Và cũng v́ thế, Mẹ Maria đă tuyệt đối được ǵn giữ trước vết nhơ tội Nguyên tổ cũng như các tội riêng, và dĩ mhiên nhờ vào cuộc khổ nạn thập giá của Đức Kitô. Nói cách khác, Mẹ Maria đă được hưởng ơn tiền cứu độ của Đức Kitô. Sau đây chúng tôi xin mời quư bạn đọc cùng suy gẫm ơn cao trọng này của Mẹ Maria:

 

Tuy Mẹ Maria là một thành viên thực sự của Giáo Hội, nhưng v́ do sự tiền định từ đời đời của Thiên Chúa muốn kén chọn Mẹ làm Mẹ Con Một Người khi xuống thế làm người, Mẹ Maria đă được hưởng ơn tiền cứu rỗi, nói cách khác, Mẹ đă được hưởng trước ơn cứu rỗi mà Đức Kitô sẽ mang tới cho nhân loại qua cuộc khổ nạn thập giá của Người, và chỉ một ḿnh được hưởng ơn ấy mà thôi. Điều đó muốn nói rằng, ngay từ giây phút đầu tiên khi Mẹ Maria được cưu mang trong ḷng mẹ ḿnh, th́ Mẹ đă được ǵn giữ khỏi bị vướng mắc tội Tổ tông và tất cả mọi tội lỗi khác, v́: trước hết, đó là thánh ư của Chúa Cha và t́nh thương bao la khôn tả của Người dành cho Mẹ; và tiếp đến, nếu Đức Kitô là Thiên Chúa, là Đấng Thánh tuyệt đối, th́ Đấng cưu mang Người là Mẹ Maria cũng phải hoàn toàn tinh tuyền thánh thiện, không thể vướng mắc vào bất cứ t́ ố tội lỗi nào, dù là Nguyên tội hay tội riêng ḿnh. Thật vậy, nếu Đức Kitô là Đấng Thánh và nắm trọn mọi quyền lực trong tay để tiêu diệt tội lỗi và giải thoát nhân loại khỏi ách tội lỗi, th́ tất nhiên Mẹ Người cũng không thể nằm dưới ách thống trị của tội lỗi được. Trái lại, chính Mẹ là Người Nữ đạp nát đầu con măng xà xảo quyệt, tức ma quỷ (x. St 3,16).

 

Hơn nữa, Mẹ Maria không chỉ một ḿnh được hưởng ơn tiền cứu rỗi như thế, nhưng Mẹ cũng được hưởng trọn vẹn ơn cứu rỗi do cuộc khổ nạn thập giá của Đức Kitô mang lại, ơn cứu rỗi mà mỗi Kitô hữu được lănh nhận khi chịu Phép Rửa Tội.

 

1.  Những ghi nhận về sự cứu rỗi của Mẹ Maria

 

Trong cuốn tiểu thuyết của bà với tựa đề „Gottesdiener“ – (Người tôi tớ của Thiên Chúa), bà Petra Morsbach kể lại tiểu sử của Linh mục Isidor Rattenhuber một cách hết sức cảm động. Trong tác phẩm, nữ tác giả đă diễn tả một cách rất ranh mănh và tinh quái, nhưng đồng thời cũng rất đậm t́nh người. Bà viết: „Cái luận lư mơ hồ và luộm thuộm mà Linh mục Isidor đă phải sử dụng để bênh vực các giáo lư của Giáo Hội, những giáo lư mà chính ông lại không xác tín, chẳng hạn như sự vô nhiễm thai của Đức Trinh Nữ Maria.“(1) Phải chăng hiện tượng Lm Isidor Rattenhuber không c̣n xác tín vào những giáo huấn trọng yếu của Giáo Hội về Đức tin, chỉ là một trường hợp ngoại trừ? Hay ông là một đại diện cho nhiều người khác cùng quan điểm như thế trong Giáo Hội? Phải chăng điều đó thực sự có quan hệ đến các tín điều của Giáo Hội, nhất là những tín điều về Mẹ Maria, mà người ta có thể bênh vực bằng những „luận lư mơ hồ và luộm thuộm“?  Nếu quả thực sự thật là như thế, th́ các nhà thần học cũng như tất cả các tín hữu phải được báo động một cách hết sức khẩn cấp. Tuy nhiên, cả khi hoàn cảnh không đến nỗi trầm trọng như bà Petra Morsbach thêu dệt lên, th́ người ta cũng cần thiết phải luôn nỗ lực t́m hiểu và đào sâu thêm các tín điều của Giáo Hội về Mẹ Maria.

 

Đức Hồng Y Lê-ô Scheffczyk đă hoàn toàn có lư khi cho rằng những giáo huấn về Mẹ Maria trước hết là nhằm mục đích làm phát huy và thắp sáng các chân lư về Đức Kitô. Đấy cũng là điều mà nhà thần học Karl Barth (1886-1968)(2) đă đề cập tới, nhưng dĩ nhiên bằng thái độ phê b́nh và phủ nhận. Nhà thần học Tin Lành này nhận thức được rằng „Môn thần học Công Giáo về Thánh Mẫu học được gắn liền với tổng thể nền thần học Công Giáo một cách bất khả phân ly“(3). Khi sự tương quan giữa Mẹ Thiên Chúa và mầu nhiệm Đức Kitô được xác định bởi ân sủng và ư chí tự do của con người, th́ các mầu nhiệm khác cũng rực sáng lên nơi con người Mẹ Maria, đó là: Mầu nhiệm đồng trách nhiệm của con người trong công tŕnh cứu chuộc, mầu nhiệm Giáo Hội được cưu mang trong tâm t́nh người Mẹ đồng trinh, mầu nhiệm cứu độ và ân sủng, mầu nhiệm sự cầu thay nguyện giúp của cộng đồng các Thánh hay cũng được gọi là mầu nhiệm các Thánh thông công, mầu nhiệm sự hoàn thiện, bao gồm cả thể xác nữa. Tất cả những chân lư đức tin này đều quy tụ lại trong con người Mẹ Maria „như trong một chóp đỉnh sống động“(4).

 

Qua mối quan hệ gắn bó chặt chẽ đặc biệt với Đức Kitô, Mẹ Maria đóng một vai tṛ vô cùng quan trọng và đặc thù trong lịch sử cứu độ. Bởi vậy, người ta không thể so sánh sứ mệnh của các Tông Đồ hay của bất cứ vị Thánh nào với sứ mệnh mang tính cách hoàn toàn riêng biệt của Mẹ Maria được. Với lư do là không một Thánh nhân nào đă nắm giữ một vai tṛ đầy thách đố và mang tính cách quyết định trong lịch sử cứu độ của Thiên Chúa như Mẹ Maria.

 

Bởi vậy, chiều kích Giáo Hội học về tất cả các mầu nhiệm về Mẹ Maria cũng đều nhấn mạnh một cách rơ ràng: Sự „Vô nhiễm thai“ của Mẹ Thiên Chúa là một h́nh ảnh thực tiễn nói lên sự thánh thiện chân chính của Giáo Hội, một sự thánh thiện mà cả t́nh trạng tội lỗi hay sự bất toàn của các thành phần của Giáo Hội cũng không thể ảnh hưởng hay liên hệ tới được. Giáo sư Joseph Ratzinger – hiện là ĐGH Bênêđíctô XVI – cũng đă tham chiếu trong thần học của ngài về các Giáo Phụ h́nh ảnh „Ecclesia Immaculata“ – Giáo Hội tinh tuyền (Ep 5,27) đă viết: „Giáo huấn về sự „Vô Nhiễm Thai“ của Mẹ Maria là … một phát biểu muốn nói lên một cách đầy tin tưởng chắc chắn rằng quả thực có một Giáo Hội thánh thiện – v́ sự tinh tuyền thánh thiện của Mẹ Maria với tư cách Mẹ là một cá thể riêng, nhưng đồng thời Mẹ cũng là đại diện cho Giáo Hội. Vậy, trong nghĩa này, giáo huấn „Vô Nhiễm Thai“ của Mẹ Maria là một phát biểu hoàn toàn chắc chắn về sự thánh thiện của Giáo Hội“(5). Và giáo sư Ratzinger c̣n thêm.Theo phạm vi sự hiểu biết của chúng tôi, th́ sự tinh tuyền thánh thiện ấy được hiểu nơi Mẹ Maria và chỉ nơi Mẹ Maria mà thôi, một cách hoàn toàn và trọn vẹn, bởi v́ Mẹ đại diện cho Giáo Hội, đối với Mẹ ơn được cứu độ sau cùng không c̣n chỉ là một lời hứa nữa, nhưng là một thực tại.“(6)

 

2.  Chiều kích đại kết trong việc tôn sùng Mẹ Maria

 

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nh́n thấy trong tinh thần đại kết của các Thánh chiều kích đại kết đầy thuyết phục nhất. Bởi v́, theo ngài, chính cộng đoàn hoàn toàn hiệp nhất của các Thánh, hay mầu nhiệm các Thánh thông công, là cả một tiếng nói c̣n hùng hồn và đầy xác quyết về sự hiệp nhất cần thiết giữa các Kitô hữu hơn những kẻ đă gây nên những cuộc ly khai và chia rẽ(7). Trong Thông điệp về đại kết của ngài „Ut unum sint“ - Để chúng nên một (1995), Đức Gioan Phaolô II đă khẩn cấp cho thấy rằng cộng đồng chưa trọn vẹn của các Giáo Hội và của các cộng đoàn các tín hữu được đặt nền tảng chắc chắn một cách vô h́nh „trên cộng đồng trọn vẹn của các Thánh, nghĩa là của những người đă luôn sống một cuộc sống trung thành với ân sủng trong sự kết hiệp mật thiết với Đức Kitô hiển vinh“(8).

 

Cả các Giám Mục và các nhà thần học thuộc các Giáo Hội và các cộng đoàn Kitô giáo khác cũng đă nhận thức được tầm quan trọng to lớn của các Thánh và của việc tôn sùng các Thánh  trong những bước tiến của công cuộc đại kết. Cuộc đối thoại chân thành và cởi mở song phương giữa các đại diện Hội Đồng các Giám Mục Đức và các đại diện của Giáo Hội Tin Lành Luther Thống Nhất ở Đức  vào năm 2000 đă mang đến một kết quả quan trọng ngoài sự mong đợi của mọi người, đó là tập tài liệu: „Communio Sanctorum – Die Kirche als Gemeinschaft der Heiligen: Các Thánh Thông Công – Giáo Hội là cộng đoàn của các Thánh“ (9). Một phần trong tập tài liệu quan trọng này (số: 253-268) được dành để đề cập tới sự tôn sùng Mẹ Maria với tựa đề: „Die Verehrung Maria, der Mutter des Herrn“ - Sự tôn sùng Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa.

 

Dĩ nhiên, tập tài liệu nói trên của hai Giáo Hội Công Giáo và Tin Lành Lu-the-rô ở Đức cũng không quên cho rằng, đối với các tín hữu Tin Lành, không chỉ sự tôn sùng Đức Maria, nhưng kể cả sự phát triển các giáo huấn về Đức Maria của Giáo Hội Công Giáo „đă và đang đặt thành nghi vấn“ (số 257). Nhưng nhất là việc công bố tín điều về  Đức Maria: „Sự Vô Nhiễm Thai“ (1854) và tín điều „Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời“ (1950) đă gây nên những thách đố đối với phía Tin Lành. Theo quan điểm của phía anh em Tin Lành th́ hai tín điều ấy không hề được đề cập tới một cách rơ ràng trong Kinh Thánh.  Măi cho tới quá khứ gần đây nhất, người ta vẫn luôn cho rằng hai tín điều Vô Niễm Thai và Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời đă gây nên một sự mâu thuẫn bất khả vượt qua được giữa Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Tin Lành, đến nỗi măi tới nay khoa Thánh Mẫu học và sự tôn sùng Mẹ Maria ít khi trở thành đối tượng của những cuộc đối thoại đại kết. Thế nhưng trong những năm vừa qua cục diện của vấn đề đă hoàn toàn thay đổi.

 

Đối với quan điểm người Công Giáo, những tín điều về Đức Mẹ được công bố vào các thế kỷ XIX và XX là kết quả của những t́m hiểu và suy tư trong suốt hằng bao thế kỷ của Giáo Hội. Những tín điều ấy đă giải đáp cho vấn nạn: Thiên Chúa đă tác động thế nào trong cuộc sống Mẹ Maria, Đấng mà Người đă kén chọn một cách hoàn toàn đặc biệt để làm Mẹ Con Một Người?  Tín điều „Vô Nhiễm Thai“ của Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, được đặt cơ sở trên sự nhận thức đầy tin tưởng về sự trung tín tuyệt đối của Thiên Chúa, Đấng đă làm cho tất cả mọi sự trở nên thiện hảo nơi những người, mà theo sự an bài từ đời đời của Người, Người đă kêu gọi (Rm 8,28). Tín điều khẳng định rằng ngay từ giây phút đầu tiên được thụ thai trong ḷng mẹ, Mẹ Maria đă được ǵn giữ khỏi vết nhơ của tội Nguyên tổ, một tội mà tất cả mọi con cái loài người đều bị lây nhiễm.

 

Dĩ nhiên, việc Mẹ Maria được ǵn giữ khỏi tội Nguyên tổ như thế ngay từ giây phút đầu tiên khi Mẹ được thụ thai trong ḷng mẹ ḿnh, nói cách khác, việc Mẹ Maria được hưởng ơn tiền cứu độ mà Chúa Cứu Thế, Con Mẹ, sẽ mang đến cho nhân loại bằng cuộc khổ nạn thập giá của Người sau này, th́ hoàn toàn là do ân sủng và t́nh thương vô biên của Thiên Chúa Cha ban cho Mẹ, chứ không phải là do công trạng riêng của Mẹ. Thật vậy, cũng như tất cả mọi con cái loài người khác, Mẹ Maria cũng chỉ là một thụ tạo, và v́ thế Mẹ cũng cần đến ân sủng của Chúa qua sự trung gian của Đức Kitô, Đấng là nhịp cầu duy nhất nối kết giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa Cha và con cái loài người. Do đó, „ngoài Đức Kitô không có sự cứu rỗi“ (thánh I-rê-nê), hay như chính Đức Giê-su đă khẳng định: „không có Thầy, các con không thể làm được ǵ cả“ (Ga 15,5).

 

Vậy, Mẹ Maria được cứu rỗi là nhờ ơn công chính hóa của Thiên Chúa ban cho Mẹ qua Đức Kitô. Mẹ Maria „được đầy ơn phúc“ (Lc 1,28) và hoàn toàn được ǵn giữ khỏi mọi tội lỗi, tội nguyên tổ cũng như các tội riêng, là do Mẹ được kết hiệp mật thiết với Đức Giê-su Kitô một cách đặc biệt, một sự kết hiệp mà không một ai trong con cái loài người có được. Bởi v́:

 

·        Mẹ là Mẹ Đức Kitô,

·        Mẹ đă cưu mang Đức Kitô, Con Một Thiên Chúa trong cung ḷng đồng trinh của Mẹ,

·        Mẹ đă yêu mến và tin tưởng Con Mẹ hơn bất cứ ai khác,

·        Mẹ là Đấng cộng tác hoàn toàn vào chương tŕnh cứu độ của Chúa Cứu Thế hơn bất cứ ai khác,

·        Vâng, Mẹ là Đấng Đồng Công đúng nghĩa và trọn vẹn trong cuộc khổ nạn của Đức Kitô.

 

Tất cả những điều ấy cũng muốn nói lên chân lư đức tin này: Mẹ Maria được ơn Vô Nhiễm Nguyên tội ngay từ giây phút đầu tiên khi được thụ thai trong ḷng mẹ, là duy nhất nhờ vào công tŕnh cứu chuộc của Đức Kitô qua cuộc khổ nạn và cái chết của Người trên thập giá, trong khi các Kitô hữu khác chỉ được khỏi tội Nguyên tổ qua Bí tích Rửa tội.

 

Nhưng mục đích tiên quyết mà tín điều „Vô Nhiễm Thai“ của Mẹ Maria là nhằm đề cao và làm nổi bật quyền năng vô biên của ân sủng Thiên Chúa, Đấng hoàn toàn tự do muốn kêu gọi ai và kêu gọi bằng cách thức nào là tùy thánh ư của Người quyết định.

 

Và tín điều „Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời“ cũng được bắt nguồn từ trong lời Thư thánh Phaolô gửi tín hữu Roma, như sau: „Những ai Thiên Chúa đă tiền định, th́ Người cũng kêu gọi; những ai Người đă kêu gọi, th́ Người cũng làm cho nên công chính; những ai Người đă làm cho nên công chính, th́ Người cũng cho hưởng phúc vinh quang.“ (Rm 8,30). Nói cách khác, nếu một khi Thiên Chúa muốn tuyển chọn và ban ân sủng cho một ai đó, và nếu người ấy biết đầy ḷng tin tưởng phó thác đón nhận ân sủng của Người cũng như nỗ lực sống theo ân sủng ấy, th́ Thiên Chúa sẽ ban tặng cho toàn diện thực thể của người ấy, tức cả hồn lẫn xác, ơn được diễm phúc thông hiệp trọn vẹn với Người. Điều mà chúng ta hằng tuyên tín trong câu cuối cùng của Kinh Tin Kính: „Tôi trông đợi kẻ chết sống lại, và sự sống đời sau“, là niềm hy vọng của tất cả mọi tín hữu và đồng thời đó cũng là điều mà tín điều „Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời“, được tuyên bố năm 1950, muốn minh chứng một cách hùng hồn và cụ thể. Nhưng điều mà Mẹ Maria đă đạt tới được, c̣n tất cả chúng ta th́ đang trên đường t́m kiếm và mong đợi, đó là: Sự sống lại từ cơi chết và cuộc sống vĩnh cửu, hoa quả thực tiễn của ơn thánh hóa của Thiên Chúa.

 

Nói tóm lại, hai tín điều về Mẹ Maria là „Vô Nhiễm Thaihay „Vô Nhiễm Nguyên Tội“ và „Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời“, được công bố trong các thế kỷ XIX và XX, mà các nhà thần học Tin Lành vốn coi như là những cản trở khó vượt qua trên con đường đại kết, th́ trên thực tế chỉ nhằm phụng sự vinh quang Thiên Chúa như là mục đích tối hậu mà thôi. Các tín điều ấy chứa đựng một chiều kích hết sức sâu xa trong việc tán tụng và ca ngợi Thiên Chúa, nghĩa là các tín điều ấy nhằm ca tụng và cảm tạ các ơn lành của Thiên Chúa như là mục đích tối hậu. Nếu các anh em Tin Lành biết khám phá và hiểu rơ được nội dung chính yếu của các tín điều về Mẹ Maria một cách đúng đắn như thế, chắc chắn họ sẽ nhận thức được rằng trên nguyên tắc, hai tín điều này thực sự được bắt nguồn trong mặc khải(10).

 

Sự tôn sùng Mẹ Maria luôn cần phải được định hướng theo Đức Kitô, hay nói cách khác, sự tôn sùng Mẹ Maria luôn luôn phải nhằm tôn vinh Đức Kitô như là mục đích tối hậu. Dựa theo những hướng dẫn của ĐTC Phaolô VI trong Tông thư thời danh của ngài về sự tôn sùng Mẹ Maria „Marialis cultus“ (11), th́ sự tôn sùng Mẹ Maria phải được đặt nền tảng trên Kinh Thánh, phải được thể hiện trong Phụng Vụ, một cách phù hợp với khoa nhân chủng học và tinh thần đại kết ngày nay. Để củng cố sự hiệp nhất trong đức tin, các anh em Tin Lành Lu-the-rô cần đánh giá cao sự nỗ lực của các tín hữu Công Giáo trong việc thiết đặt vai tṛ Mẹ Maria trong Kitô học và Giáo Hội học. Đối với quan điểm Công Giáo, Mẹ Maria là hiện thân cho sự kiện được thánh hóa nhờ vào ân sủng và qua đức tin. Cả hai tín điều cuối cùng về Mẹ Maria như vừa đề cập ở trên, đều muốn làm nổi bật chân lư này là: nếu Thiên Chúa tuyển chọn một người nào đó theo sự an bài của Người, tương tự như trường hợp Mẹ Maria, th́ quan điểm Kitô giáo luôn cho rằng sự kêu gọi đó liên hệ đến con người toàn diện của người ấy. Và sự kêu gọi đó bắt đầu trong giây phút đầu tiên của cuộc đời người ấy và luôn đồng hành với người ấy măi, chứ không bao giờ từ bỏ người ấy nữa.

________________

1.         B. Schwens-Harrant, Rez. Von: P. Morsbach, Gottesdiener, Frankfurt a. M. 2004, in: Die Presse (Wien) vom 21.8.2004, S. VI.- H.B. Wuermeling (trong: Die Tagespost Nr. 106/04.09.2004, 13) gọi cuốn Tiểu thuyết này một „áng văn chương hay“ (literarische Wohltat) và cho rằng việc đọc cuốn Tiểu thuyết „có thể tránh cho Giáo Hội được nhiều tường thuật thiếu thuật lợi của công ty McKinsey“. McKinsey là một công ty tư vấn và chuyên nghiên cứu dư luận, v.v…

2.         Karl Barth là một nhà thần học Tin Lành nổi tiếng, người Thụy Sĩ. Ông sinh ra và lớn lên trong gia đ́nh một giáo sư thần học ở tỉnh Basel, nằm trên biên giới Thụy Sĩ-Đức. Cho đến năm 1909, ông theo học thần học lần lượt tại các đại học Bern, Berlin, Tübingen và Marburg. Năm 1911 ông thừa hành chức Mục sư tại một Xứ đạo ở Thụy Sĩ. Sau trận thế chiến I, ông đề xướng một khuynh hướng thần học quan trọng và mới mẽ trong nội bộ Giáo Hội Tin Lành: Thần học biện chứng.

3.         Karl Barth, Kirchliche Dogmatik I, 2, 157.

4.         L. Scheffczyk, Katholische Glaubenswelt. Wahrheit und Gestalt, Aschaffenburg 2. Aufl. 1978, trang 270-277, câu này ở trang 272; xin xem tiếp: Die Mariengestalt im Gefüge der Theologie. Mariologische Beiträge, Regensburg 2000; W. Beinert, Die mariologischen Dogmen und ihre Entfaltung, in: ders./H. Petri (Hg.), Handbuch der Marienkunde, Regensburg 2. Aufl. 1996, trang 267-363.

5.         Joseph Ratzinger, Die Tochter Sion. Betrachtungen über den Marienglauben der Kirche. (Kriterien 44) Einsiedeln 1977, trang 61-83, câu này ở trang 70.

6.         như trên, trang 80. Xin xem thêm HY Joseph Ratzinger/Hans-Urs von Balthasar, Maria – Kirche im Ursprung, Einsiedeln 4. Erw. Aufl. 1997; H.U. von Balthasar, Maria für heute. (Kriterien, 98), Einsiedeln, Neuausgabe 1997, trang 36-49.

7.         xem Tông thư „Tertio millennio adveniente“, số 37.

8.         Thông điệp „Ut unum sint“, số 84.

9.         xem Bilaterale Arbeitsgruppe der Deutschen Bischofskonferenz und der Kirchenleitung der Vereinigten Evangelisch-Lutherischen Kirche Deutschlands: „Communio Sanctorum – Die Kirche als Gemeinschaft der heiligen“, Paderborn-Frankfurt a.M. 2000.

10.    H. Schmoll (Đúng như Luther đă mong muốn. Sự đánh giá của phân khoa thuộc đại học Erlagen và Tübingen về tập tài liệu „Communio Sanctorumg“, trích trong nhật báo „Frankfurt allgemeine Zeitung“, số 86, ra ngày 13.4.2002, trang 12) trái lại cho rằng công tŕnh nghiên cứu song phương giữa đại diện Công Giáo và Tin Lành chỉ muốn „làm cho người Tin Lành cảm nhận được sự thú vị trong việc tôn sùng các Thánh của người Công Giáo, không hơn không kém.“ Các giáo sư thuộc phân khoa thần học Tin Lành của đại học Tübingen đă xác định sự đánh giá của họ về tập tài liệu „Communio Sanctorum“ như sau: việc cho rằng, dựa theo nguyên tắc, hai tín điều về Đức Maria trong thời tân đại hoàn toàn phù hợp với mặc khải, là một điều không thể chấp nhận được.

11.    Paul VI, Marialis cultus, 1974, Nr. 29-39.

 

(C̣n tiếp)

 

Lm Nguyễn Hữu Thy