Mẹ Maria, Đấng duy nhất được lănh nhận ơn Tiền Cứu Rỗi (3)

 

 

4.3.   Những phát biểu của Ṭa Thánh

 

Cuộc tranh luận giằng co kéo dài hàng thế kỷ giữa hai học phái Scotisten (môn sinh của Duns Scotus) thuộc Ḍng Phan-xi-cô và Thomisten (môn sinh Thomas Aquinô) thuộc Ḍng Đa Minh, về sự „Vô Nhiễm Thai“ của Mẹ Maria, hay nói đúng hơn giữa hai quan điểm đối lập nhau: một bên khẳng định Mẹ Maria hoàn toàn vô nhiễm Nguyên tội; c̣n bên kia lại quả quyết Mẹ Maria không vô nhiễm nguyên tội, ít là trong một thoáng thời gian nào đó.

 

Vào năm 1477, Đức Giáo Hoàng Sixtus IV (1414-1484), xuất thân là một Thầy Ḍng Phan-xi-cô, đă cho cử hành Đại Lễ „Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội“ vào ngày 8 tháng 12 hằng năm với những lời  nguyện và bài đọc riêng (x. DH 1400)(1). Trong Tông hiến „Grave Nimis“ của ngài ban hành năm 1483, ĐGH Sixtus IV đă kết án tất cả những ai cho rằng quan điểm của những người ủng hộ ơn Vô Nhiễm Thai của Mẹ Maria là lạc đạo và khẳng định rằng Giáo Hội Roma chỉ chấp nhận sự thánh hóa của Mẹ Maria trong dạ mẹ trước khi được sinh ra mà thôi (x DH 1425tt).

 

Trong quy tắc 6 của Sắc Lệnh về tội Nguyên tổ ban hành năm 1546, công đồng Tridentinum đă dựa theo Tông Hiến „Grave Nimis“ và giải thích: „Nhất trí với giáo huấn này (Tông hiến Grave Nimis), Công đồng không có ư nói bao hàm cả Mẹ Maria, Rất Thánh Trinh Nữ vô nhiễm nguyên tội và là Mẹ Thiên Chúa, khi đề cập tới tội Nguyên tổ“ (DH 1516).

 

Và từ từ khuynh hướng các ư kiến trong Giáo Hội đă nghiêng hẳn về quan điểm quả quyết „Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội“, đến nỗi năm 1617 Đức Giáo Hoàng Phaolô V đă ra lệnh cấm không ai được phép công khai đưa ra ư kiến ngược lại với giáo huấn về sự  „Vô Nhiễm Nguyên Tội“ của Mẹ Maria. Tuy nhiên, Đức Phaolô V vẫn không chống lại quan điểm ngược lại. Sau đó, vào năm 1622 Đức Giáo Hoàng Grê-gô-ri-ô XI áp dụng lệnh cấm của Đức Phaolô V một cách nghiêm ngặt hơn nữa. Ngài chỉ cho phép các nhà thần học thuộc Ḍng Đa Minh chỉ được tiếp tục tranh luận về vấn đề trong nội bộ Ḍng mà thôi.

 

Và với phong trào sùng kính Mẹ Maria được bành trướng sâu rộng và mạnh mẽ trong Giáo Hội vào thế kỷ XIX, Đức Giáo Hoàng Piô IX đă đích thân can thiệp vào vấn đề. Năm 1849, ngài đă viết thư thỉnh ư tất cả các Giám Mục trên khắp thế giới về vấn đề „Vô Nhiễm Thai“ của Mẹ Maria. Trong số 606 Giám Mục trên khắp thế giới trả lời thư của Đức Thánh Cha, có tới 546 vị đồng ư việc tuyên bố giáo huấn „Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội“ thành tín điều. Một điều đáng chú ư là hầu hết các Giám Mục c̣n tỏ ra do dự, đều thuộc vùng lănh thổ nói tiếng Đức. Thái độ do dự của các vị Giám Mục này đă nói lên t́nh trạng nội bộ của Giáo Hội tại Đức quốc vào lúc bấy giờ, những điều kiện bên ngoài đáng lo ngại của đời sống Giáo Hội và cả những vấn đề thần học.

 

Thật vậy, quan điểm của đa số các đại học thần học ở Đức đều không tán thành việc tuyên bố thành tín điều. Nhưng không chỉ các nhà thần học Đức, mà ngay cả một số các nhà thần học ở Roma cũng tỏ thái độ dè dặt và thật trọng. Lư do chính thường được đưa ra là giáo huấn đức tin về ơn „Vô Nhiễm Thai“ của Mẹ Maria thiếu nền tảng Kinhn Thánh. Tuy nhiên, đại đa số các nhà thần học này hoàn toàn sẵn sàng ủng hộ, nếu Đức Giáo Hoàng tuyên bố thành tín điều.

 

V́ thế, sau khi được các Ủy ban thần học, nhất là hai nhà thần học nổi danh thuộc Ḍng Tên là các giáo sư Giovanni Perrone và Carlo Passaglia, nghiên cứu, phân tích, t́m hiểu và sửa soạn một cách  khách quan, đầy đủ và khoa học, Đức Giáo Hoàng Piô IX đă tuyên bố trong Sắc chỉ „Ineffabilis Deus“ vào ngày 8.12.1854: „Giáo huấn dạy rằng Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria, do một ân sủng đặc biệt đă được Thiên Chúa toàn năng ban cho, nhờ vào công nghiệp Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc nhân loại (intuitu meritorum Christi Jesu Salvatoris humani generis), đă được ǵn giữ khỏi mọi vết nhơ của Nguyên tội (ab omni originalis culpae labe praeservatum immunem) ngay từ giây phút đầu tiên khi Mẹ được cưu mang (in primo instanti suae conceptionis), đă được Thiên Chúa mặc khải và v́ thế phải được tất cả các tín hữu tin tưởng một cách chắc chắn và bất lay chuyển“(2).

 

Như vậy, với sự hưởng ứng rộng răi của các tín hữu và của các Giám Mục trong toàn Giáo Hội, Đức Giáo Hoàng Piô IX đă kết thúc sự phát triển của giáo huấn đức tin về sự „Vô Nhiễm Nguyên Tội“ của Mẹ Maria và long trọng tuyên bố thành tín điều, nghĩa là một sự thật đă được mặc khải từ trời cao và v́ thế, mọi tín hữu Công Giáo đều bó buộc phải tin nhận.

 

Đứng về phương diện nhân chủng học th́ tín điều „Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội“ mang một ư nghĩa rất quan trọng, giúp ta hiểu được việc Thiên Chúa kén chọn và ban ân sủng cho mỗi người theo sự an bài đầy khôn ngoan và yêu thương của Người (như nơi Mẹ Maria), cũng như sự hiện thực sự tự do của con người. Nói cách khác, sự tự do bất khả xâm phạm của con người mà Thiên Chúa đă ban cho mỗi người khi Người dựng nên họ, không chút mảy may bị hạn chế hay giảm thiểu bởi sự an bài hay tiền định của ân sủng trong việc cứu rỗi con người, nhưng trái lại càng giúp con người một cách tích cực hơn trong việc hiện thực sự dự do của ḿnh một cách đúng đắn.

 

Trong Sắc chỉ về sự định nghĩa tín điều „Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai“ của ngài, ĐGH Piô IX đă trưng dẫn chính những h́nh thức tôn sùng Mẹ Maria khác nhau trong Giáo Hội. V́ không chỉ các nhà thần học ở Đông phương, nhưng cả các nhà thần học ở Tây phương cũng đều cho rằng việc ca tụng Mẹ Maria bằng những ngôn từ hay đẹp, bóng bảy và chải chuốt là điều cần thiết, nhưng chưa đủ để làm nổi bật được phẩm giá cao cả và vai tṛ quan trọng của Mẹ Maria một cách thực tiễn. Chỉ khi các tín hữu cử hành một cách sốt sắng ḷng tôn sùng Mẹ Maria với tất cả t́nh yêu mến và sự biết ơn qua các kinh nguyện và thánh ca Phụng Vụ của Giáo Hội.

 

Đây cũng là quan điểm của thánh Anselm thành Canterbury, tổ phụ của phái Kinh Viện. Thánh nhân lồng ghép những luận cứ của ḿnh về Thánh Mẫu học vào trong thái độ sùng kính Mẹ Thiên Chúa và tâm t́nh cảm tạ Chúa v́ Mẹ. Theo thánh Anselm, nếu giả thử Con Thiên Chúa được sinh ra bởi một người nữ có tội, th́ vẫn không có ǵ là vô lư khi khẳng định rằng Người „được cưu mang bởi một người Mẹ hoàn toàn tinh tuyền cả. Nói đúng hơn, người trinh nữ ấy cần phải tỏa sáng ra trong một sự tinh tuyền như thế, bởi v́ người ta không thể tưởng tượng được là sự cao cả của nàng lại không đến từ Thiên Chúa“(3).

 

Lối suy tư nhằm „tuyệt hảo hóa“ phẩm giá Mẹ Maria một cách vượt mực như thế, đă được nhà thần học Wilhelm von Ware(4), và rơ ràng nhất là nhà thần học Chân phước Duns Scotus, đă nâng lên thành nguyên tắc. Bởi v́, trong Thánh Mẫu học, người ta luôn luôn có những lư do chính đáng và đầy thuyết phục, để khẳng định được rằng không ai có thể có được tư tưởng nào khác ngoài tư tưởng đầy tích cực và tuyệt hảo, v́ Mẹ Maria là Đấng tuyệt hảo, hoàn toàn tinh tuyền và thánh thiện. Nơi Mẹ không vấn vương bất cứ t́ vết tội lỗi nào, dù Nguyên tội hay tội riêng và dù nhỏ mọn đến đâu.

 

Do đó, mỗi khi phát biểu điều ǵ về Mẹ Thiên Chúa, th́ điều đó tất nhiên phải là sự vinh quang lớn lao nhất của Mẹ. Và cũng do đó, mặc dù trong các suy tư thần học người ta luôn cần phải giữ thái độ dè dặt và thận trọng, nhưng không phải v́ thế mà trong Thánh Mẫu học người ta được phép thiếu đi thái độ yêu mến, kính phục và cảm xúc được.  Bởi v́, sự tranh luận về Thánh Mẫu học nhằm hướng tới một người.

 

Khi đề cập tới chủ đề về „Mẹ Maria“, Công đồng Vatican II cũng đă khẳng định lại tín điều „Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội“ và tŕnh bày một cách tích cực, nhưng đồng thời cũng rất ngắn gọn. Trong Hiến chế tín lư về Giáo Hội „Ánh Sáng Muôn Dân“ (Lumen Gentium), Công đồng Vatican II đă viết: Mẹ Maria „tràn đầy thánh thiện, có một không hai, ngay từ giây phút đầu tiên lúc mới được thụ thai“ (LG, số 56). Cũng như sự tương quan với Nguyên tổ A-dong theo ḍng giống, các Nghị Phụ cũng nhấn mạnh đến sự tham chiếu mang tính cách Kitô học của tín điều và tầm quan trọng mang tính cách Giáo Hội học của nó: V́ Mẹ Maria „thuộc ḍng dơi A-dong, nên Mẹ cũng liên kết với tất cả mọi người cần được cứu rỗi“. Nhưng Mẹ Maria „đă được cứu rỗi một cách kỳ diệu nhờ công nghiệp của Con Ngài và hiệp nhất mật thiết và bền chặt với Con“. Và v́ „Mẹ Maria đă lănh nhận nhiệm vụ và vinh dự cao cả là được làm Mẹ Con Thiên Chúa, do đó làm ái nữ của Chúa Cha và cung thánh của Chúa Thánh Thần“ (LG, số 53).

________________

 

1.     DH là viết tắt của chữ Denzinger-Hünermann, một công tŕnh tổng hợp tất cả những quyết định về các giáo lư của Giáo Hội Công Giáo, do hai nhà thần học Heinrich Denzinger và Peter Hünermann thu thập và xuất bản.

2.     DH 2803; xem Courth, Texte, Nr. 106.

3.     De conceptu virginali et originali peccato 18; xem Courth, Texte, Nr. 87.

4.     Wilhelm, một nhà thần học thuộc Ḍng Phan-xi-cô, cất tiếng chào đời tại Ware (Hertfordshire) vào khoảng năm 1255 và qua đời vào năm 1300. Năm 1283 Wilhelm học tại đại học Oxford và sau đó ông là người  đầu tiên dạy tại Học Viện của Ḍng Anh Em Hèn Mọn cũng tại Oxford và rồi ông cũng dạy tại Paris. Một trong số những người học tṛ ưu tú của ông là Chân phước Johannes Duns Scotus, nhà thần học thời danh thuộc Ḍng Phan-xi-cô. Qua cách suy tư và nhận thức thần học của ông, Wilhelm von Ware đă quan tâm  đặc biệt tới những kết quả của nền thần học và triết học thế kỷ XIII. Đặc biệt nhất là ông đă mạnh mẽ bênh vực luận đề „Vô Nhiễm Nguyên Tội“ của Mẹ Maria, và chắc chắn rằng quan điểm này của ông về Mẹ Maria đă có một ảnh hưởng quyết định trên tư tưởng của Duns Scotus sau này về chính luận đề „Vô Nhiễm Nguyên Tội“ của Mẹ Maria. C̣n về tổng thể triết học, ông có khuynh hướng thiên về học thuyết Aristote, nhưng trong các chi tiết ông lại trung thành với quan điểm của thánh Augustinô. Ư niệm khoa học của ông hoàn toàn đặt cơ sở trên toán học. Trong khi đó, khoa thần học đối với ông là quy tắc chiêm niệm theo tư tưởng Thánh Augustinô, chứ hoàn toàn không phải là một khoa học. Đối tượng chính của khoa thần học là Thiên Chúa dưới góc nh́n sự thiện. Ông ca ngợi giáo huấn của thánh Augustinô về Thiên Chúa Ba Ngôi.

 

(C̣n tiếp)

 

Lm Nguyễn Hưu Thy