Một đàn chiên duy nhất

(Suy niệm của Lm. Trịnh Ngọc Danh)

Khi ấy, ở Giêrusalem, người ta đang mừng lễ Cung Hiến Đền Thờ. Bấy giờ là mùa đông. Đưc Giêsu đi đi lại lại trong Đền Thờ, tại hang Salomon. Người Do thái vây quanh Đức Giêsu và nói: “ Ông c̣n để ḷng trí chúng tôi phải thắc mắc đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Kitô, th́ xin nói công khai cho chúng tôi biết”. Chúa Giêsu đáp: “ Tôi đă nói với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin v́ các ông không thuộc đàn chiên của tôi. Chiên của tôi th́ nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đă ban chúng cho tôi, th́ lớn hơn tất cả, và không ai cướp chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một” ( Ga. 10: 27-30).

 

Chúa Giêsu tự xưng ḿnh là “cửa cho chiên ra vào”; ai qua cửa ấy mà vào th́ được cứu, sẽ gặp được đồng cỏ xanh tươi. Ngài cũng tự xưng ḿnh là Mục Tử Nhân Lành“ hy sinh mạng sống ḿnh v́ đàn chiên”; Vị Mục Tử Nhân lành ấy đến thế gian để chiên được sống và sống dồi dào: “ Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đă ban chúng cho tôi, th́ lớn hơn tất cả, và không ai cướp chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một” ( Ga. 10: 27-30).

 

Ngài biết rơ từng con chiên một. Ngoài việc không để một con chiên nào thuộc đàn chiên của Ngài bị lạc mất, Ngài c̣n lo kiếm t́m những con chiên chưa thuộc về đàn chiên của ḿnh để đưa chúng về thành một đàn chiên duy nhất: “ Tôi c̣n có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và chỉ có một đoàn chiên và một mục tử” ( Ga. 10: 16)

Khác với người chăn chiên thuê phó mặc “ sống chết mặc bay” hay ba chân bốn cẳng vội vàng chạy trốn khi thấy sói rừng xuất hiện… người chăn chiên đích thực là một người mục tử nhân hậu, thương mến đàn chiên, tận t́nh chăm sóc, bảo vệ đàn chiên, thỏa măn mọi nhu cầu cần thiết, luôn sát cạnh với chúng hằng ngày, và sẵn sàng thí mạng sống ḿnh v́ đàn chiên.

 

Là Mục Tử nhân lành, Chúa Giêsu biết chiên của Ngài. Ngài biết thân phận con người yếu đuối, biết con người phải chịu t́nh trạng nô lệ tội lỗi và biết con người cần t́nh thương, cần sự cứu thoát khỏi sự huỷ diệt…Ngài biết chúng ta rơ ràng hơn chúng ta tưởng, v́ Ngài là Đấng tạo dựng nên chúng ta.

 

Thiên Chúa biết rơ những khó khăn vất vả, những yếu đuối vấp ngă, những bệnh tật khổ đau, những ê chề thất vọng của chúng ta… Và Người luôn ở bên chúng ta để an ủi vỗ về, để nuôi dưỡng bổ sức.

 

Tương quan giữa Thiên Chúa và con người không phải là tương quan chủ- tớ, nhưng là tương quan giữa cha- con, giữa yêu thương và được yêu thương. Chúa Giêsu Kitô mặc khải cho chúng ta một Thiên Chúa nhân hậu, đầy t́nh thương, luôn sát cạnh, đồng hành với chúng ta trong cuộc sống. Người luôn quan pḥng và yêu thương con cái của ḿnh: “Tôi biết chúng và chúng theo tôi”.

 

“Tôi biết chúng.” Chuyện đó không thành vấn đề; bởi v́ Ngài là Đấng tạo dựng nên chúng ta. Ngài biết rất rơ những tâm tư , nguyện vọng của chúng ta. Vấn đề là chiên biết người chăn của ḿnh như thế nào để nghe tiếng người chăn chiên mà đi theo; đồng thời chính con chiên cũng phải tự biết đến thân phận của ḿnh. Nghe, thấy giúp con người nhận biết sự việc đúng hay sai. Từ nhận thức qua việc nghe và thấy, đưa đến niềm tin; và từ niềm tin dẫn đến việc chấp nhận đi theo.

Tất cả nhân loại là thuộc đàn chiên của Thiên Chúa; và những chiên thuộc đàn chiên của Thiên Chúa là những con chiên “nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi”.

 

Có những người không thấy, không nghe, nên họ không biết không tin và không theo th́ đă đành; nhưng có những người đă thấy, đă nghe, đă biết nhưng không phải biết bằng con mắt đức tin mà bằng lư luận nhân bản: làm sao một chàng thanh niên, con ông Giuse thợ mộc lại có thể tự xưng ḿnh là Con Thiên Chúa, là Đấng Kitô! V́ thế họ không tin và không đi theo.

 

Những người Do thái đă có một niềm tin vào một Đấng Tối Cao nào đó, nhưng họ lại không chấp nhận có một Đấng nào đó nhân danh Thiên Chúa đă đến với họ. Họ đă nghe, đă thấy những việc và những lời Chúa Giêsu giảng dạy đúng như lời các ngôn sứ đă loan báo; nhưng họ vẵn bán tín bán nghi; họ không tin: “ Ông c̣n để ḷng trí chúng tôi phải thắc mắc đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Kitô, th́ xin nói công khai cho chúng tôi biết”. Và Chúa Giêsu đă lên án họ:“ Tôi đă nói với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin v́ các ông không thuộc đàn chiên của tôi.”

 

Hoặc cũng có những con chiên đă nghe, biết, theo, nhưng lại muốn giữ độc quyền cho ḿnh việc hiểu biết, không muốn chia sẽ cho người chưa biết:“ Có nhiều người Do thái và ṭng giáo theo các ngài, được các ngài khuyên bảo bền đỗ trong ơn nghĩa Chúa”; nhưng nghe, biết mà không theo hay theo ư riêng ḿnh, hẹp ḥi trong nhận thức, ghen tức với người khác, độc quyền tôn giáo: “ Đến ngày Sabbát sau, hầu hết cả thành đều đến nghe lời Thiên Chúa. Các người Do thái thấy đám đông dân chúng th́ đâm ghen tương, nói lộng ngôn, chống lại các điều Phaolô giảng dạy”. Phaolô và Barnaba can đảm nói rằng: “ Phải giảng lời Thiên Chúa cho các ngươi trước tiên, nhưng v́ các ngươi từ chối lời Thiên Chúa và tự cho ḿnh không xứng đáng sống đời đời, th́ đây chúng tôi quay về phía dân ngoại…..

 

Có những người chỉ nghe, nhưng biết người chăn chiên của ḿnh bằng niềm tin và họ đă đi theo. Đó là những người được Chúa chúc phúc: “ Phúc cho những ai đă không thấy mà tin”.

 

Khi lănh nhận Bí Tích Thanh Tẩy, chúng ta đă trở thành con chiên của Thiên Chúa, chúng ta thuộc về một đàn chiên là Giáo Hội như Thánh Phêrô đă noi trong thư thứ 1 ( 1 Pr 2: 25): « Xưa kia, anh em như những con chiên lạc, nhưng giờ đây, anh em đă trở về cùng vị mục tử và Đấng canh giữ linh hồn anh em.» Lắng nghe, thực thi Lời Chúa, tuân giữ những điều Giáo Hội truyền dạy là chúng ta nghe biết tiếng của người chăn chiên, là đi theo sự hướng dẫn của đức tin, đức cậy và đức mến. V́ « Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, v́ danh dự của Người. Dù bước đi trong thung lũng tối, tôi không lo mắc nạn, v́ Chúa ở cùng tôi. Cây roi và cây gậy của Người, đó là điền an ủi ḷng tôi ( Tv 22: 3-4)

 

Điểm tựa và niềm hy vọng cho cuộc sống chúng ta là lời Chúa đă xác quyết: Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đă ban chúng cho tôi, th́ lớn hơn tất cả, và không ai cướp chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một” ( Ga. 10: 27-30)

 

Sống theo đàn, nghe biết tiếng người chăn chiên, theo sau người chăn chiên, tránh xa tiếng kêu gọi của người lạ là sống trong ḷng Giáo Hội, sống theo Tin Mừng, là chết đi cho con người tội lỗi để theo chân người chăn chiên đi vào Cửa Chuồng Chiên là Chúa Giêsu Kitô đă chết và đă sống lại.

Nỗi trăn trở của Vi Mục tử Nhân lành là:“ Tôi c̣n có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và chỉ có một đoàn chiên và một mục tử” ( Ga. 10: 16).

 

Người chăn chiên biết từng con chiên và ngược lại, từng con chiên biết người chăn chiên. Làm sao để biết chủ chăn của ḿnh? Qua Kinh Thánh, nhất là Tin Mừng, chúng ta biết người chăn chiên ấy; và chúng ta sẽ biết rơ người chăn chiên ấy hơn khi chúng ta biết sống gần gủi và thân mật hơn với các chiên khác trong cùng đàn chiên.

 

“Tôi là Gioan đă xem thấy một đám đông không thể đếm được, họ thuộc mọi ṇi giống, ḍng họ, dân tộc và tiếng nói, đứng trước ngai vàng và trước Con Chiên, họ mặc áo trắng dài, tay cầm là vạn tuế, Họ là những người từ đau khổ lớn lao mà đến, họ giặt áo và tẩy nó trắng trong máu Con Chiên. V́ thế, họ ở trước ngai vàng Thiên Chúa, và ngày đêm phụng sự Người trong đền thánh Chúa, Đấng ngự trên ngai vàng đặt giữa họ. Họ sẽ không c̣n đói khát; mặt trời và nóng bức sẽ không làm khổ họ, v́ Con Chiên đứng trước ngai vàng sẽ thống trị họ, sẽ dẫn họ đến nguồn nước ban sự sống, và Thiên Chúa sẽ lau hết mọi giọt lệ nơi mắt họ” ( Kh. 7:9,14-17)

 

Viễn cảnh mà thánh Gioan đă chứng kiến sẽ được thực hiện khi “ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử”. Tất cả nên một!

 

Tin tưởng, phó thác vào t́nh thương của Chúa khiến chúng ta an ḷng.