Phúc cho ai sẵn sàng đón nhận Chúa.

(Suy niệm của Jude Siciliano)

Khi viết Tin Mừng, thánh Luca chia cuộc đời Chúa Giêsu làm 3 giai đoạn:

1.     Ở quê hương Nazareth xứ Galilea;

2.     Hành tŕnh đi lên Giêrusalem;

3.     Ở thành thánh Giêrusalem: chịu thương khó, bị giết chết và sống lại.

 

Thánh nhân thâu gom mọi hoạt động của Chúa vào 3 giai đoạn ấy bất kể nơi chốn và thời gian. Cho nên chúng ta khó xác định biến cố xảy ra ở đâu, lúc nào? thí dụ chuyện của hai chị em Matta và Maria hôm nay. Thánh sử ghi chép rất chung chung: “Trong khi Thầy tṛ đi đường. Đức Giêsu vào một làng kia…” Thánh Gioan nói rơ: làng Betania (11,1), và thời gian th́ không phải Đức Giêsu đi lên Giêrusalem một lần duy nhất, nhưng vào nhiều dịp khác nhau. Tuy nhiên cứ theo thánh Luca th́ câu chuyện Tin mừng hôm nay ở vào cuộc hành tŕnh duy nhất này. Phụng vụ cho đọc về cuộc hành tŕnh từ Chúa nhật 13 mùa thường niên. Một vài biến cố xảy ra lúc thầy tṛ đang đi đường. Một vài biến cố chỉ lấy con đường làm nền tảng c̣n th́ xảy ra ở những nơi khác. Chuyện của hai chị em Matta và Maria không ở trên đường đi mà “vào một làng kia”. Cũng xin lưu ư nhiều tác gỉa không đồng nhất bà Maria này với Maria-Madalêna hay người đàn bà tội lỗi vô danh xức thuốc thơm chân Chúa ở nhà ông Simon (7,36). Ba người đàn bà có những tính nết khác nhau, không lẫn lộn được. Người đàn bà vô danh thánh Luca thuật chuyện ở giai đoạn thứ nhất. Ngài không lặp lại ở đây nữa (xem Le personnage de Marie-Madeleine dans L’Evangile, trong La revue Jerusalem tháng 9-10,1930).

V́ câu chuyện quá quen thuộc, chúng ta không nên vội vàng đi đến kết luận ngay, kẻo làm thiệt hại cho sự thật. Xin tưởng tượng ḿnh đọc lần thứ nhất và để tâm suy nghĩ xem thánh Luca muốn nói ǵ với chúng ta nhân câu chuyện của hai chị em. Thí dụ về cô Matta, chúng ta đừng vội kết luận cô ta thuộc hạng người hoạt động thái quá, dễ nổi nóng và lo lắng tiếp đăi khách, cô không c̣n thời giờ lắng nghe lời Thiên chúa phán dạy. Nếu chúng ta có thành kiến gán cho cô như vậy, th́ thử hỏi nhiều độc giả nghĩ thế nào khi đọc đoạn Tin mừng này? Bởi v́ họ cũng là người cha, người mẹ vất vả kiếm sống cho con cái trong xă hội xô bồ hôm nay. Họ cũng là những công nhân, nông dân đầu tắt mặt tối kiếm tiền nuôi gia đ́nh! Liệu có ai trong cuộc sống văn minh ngày nay được thời giờ nhàn hạ như cô Maria? Liệu chúng ta có kết án vô lư tầng lớp sản xuất của xă hội? Tầng lớp mọi người đều trân trọng v́ lao động của họ?

 

Ví dụ một người cha, người mẹ độc thân, lương lậu thấp, cố gắng rất mực để cho gia đ́nh đủ ăn đủ mặc mà nghe giải thích bài Tin mừng hôm nay theo năo trạng cũ, mà lại không thấy mủi ḷng? Liệu họ có thể lựa chọn ngồi một chỗ thinh lặng chiêm niệm lời Chúa như cô Maria được không? Cho nên chúng ta không thể loại trừ tầng lớp lao động chân tay khỏi ư nghĩa của Tin mừng. Chúng ta phải làm thế nào cho cô Matta cũng được tham dự vào “phần tốt nhất” mà Chúa Giêsu tuyên bố cho những kẻ lắng nghe lời Chúa! Như vậy th́ những phụ nữ lao động tại gia đ́nh hoặc trong các xí nghiệp. quan mới cảm thấy không thiệt tḥi về phần thiêng liêng. Chính họ đă phải hy sinh nhiều v́ chồng con. Lắm người lại c̣n phải mang gánh nặng góa bụa. Liệu Matta có phải là một bà góa không nhỉ? Những chỉ số thống kê gần đây cho biết phụ nữ luôn lănh lương thấp hơn so với nam giới trong cùng một công việc. Ngoài ra phụ nữ lại là những nhân viên t́nh nguyện đông hơn nam giới trong các cơ sở giáo hội, từ thiện, bác ái, công ích xă hội. Họ ít thời giờ giải trí, vui chơi hơn đàn ông. Thực tế họ là những phụ nữ “Samaritanô” nhân hậu lắng nghe và tuân giữ lời Chúa như chị em Maria và Matta. Cho nên chúng ta phải công bằng với họ trong lư thuyết và thực hành, làm sao cho họ cũng là những kẻ đón nhận Chúa Giêsu, lắng nghe lời Ngài như bao người khác. Để rồi như dụ ngôn người “thân cận” chúng ta hiểu được việc phục vụ của các tín hữu hệ tại nội dung nào?

 

Một điều cần nói là trong bản dịch khác của tiếng Anh th́ từ “đón nhận” được chuyển ngữ là “tiếp đăi” Chúa Giêsu. Thoạt kỳ thủy chỉ có Chúa và cô Matta. Maria chưa xuất hiện. Trong suốt câu chuyện Maria chẳng nói lời nào! Matta theo truyền thống đông phương đă tiếp đăi kẻ đi đường rất nồng hậu và lịch thiệp. Chúng ta thấy truyền thống này trong bài đọc 1. Ông Abraham tiếp đăi ba người khách lạ xin trọ nhà ở Mambrê, gần Hébron. Ông đă giục vợ là Sara làm bánh tiếp đăi các vị, rồi sai đầy tớ bắt bê béo làm thịt. Sách Sáng thế Kư kể: “Ông Abraham vội vă vào lều t́m bà Sara mà bảo: Bà mau mau lấy ba thúng tinh bột mà nhồi rồi làm bánh. Ông chạy lại đàn vật, bắt một con bê non béo tốt, giao cho đầy tớ và anh này vội vă làm thịt. Ông lầy sữa chua, sữa tươi và thịt bê đă làm mà đăi khách”. Rơ ràng có những vội vă, rộn ràng trong việc tiếp khách của ông Abraham. Vậy mà ông đâu có bị quở mắng? Ngược lại hai ông bà lại được chúc phúc: sẽ có con cháu nối ḍng. Đó là Isaac (tiếng này có nghĩa là nụ cười v́ bà Sara cười thầm khi nghe khách báo tin). Cô Matta đă theo thói tục lâu đời của cha ông đăi khách lạ trong nhà ḿnh. Cả hai câu chuyện đều có ư nghĩa chung: tiếp đón Thiên Chúa đến viếng thăm. Abraham và Sara đă được ơn phúc lớn v́ sự hiếu khách của ḿnh. Chẳng lẽ Matta lại bị quở phạt? Chúng ta phải hiểu câu chuyện của cô theo hướng khác.

Phụng vụ chọn đọc bài Sáng thế song song với bài Tin Mừng là có dụng ư. Chúng ta được kêu mời suy nghĩ kỹ hơn về các sự kiện. Nhờ ḷng hiếu khách Abraham và Sara được Thiên Chúa chúc lành với người con nối ḍng. Nhưng ḍng dơi đích thực của họ là phần tinh thần. Con cái họ là những kẻ biết kính sợ và tin cậy Thiên Chúa. Đấng luôn luôn ngự giữa dân Ngài theo lời hứa. Đấng kư kết với Israel những giao ước vĩnh cửu. Ḍng dơi Abraham và Sara là những kẻ lữ hành trong đức tin trên cuộc đời trần gian. Họ sẽ “mở ḷng ra” đón nhận Thiên Chúa trong cuộc sống ḿnh. Cũng như Matta và Maria, chúng ta là hậu duệ của hai ông bà, chúng ta cũng phải mở trí, mở ḷng đón nhận lời Chúa, đón nhận “khách lạ” vào cuộc sống ḿnh. Những khách lạ đó không hẳn là người đồng vai đồng vế, những môn đăng hộ đối về kinh tế, chính trị, học thức với ḿnh. Nhưng có thể là thấp kém, cũng có thể là hơn. Hội thánh xưa nay vẫn vừa chiêm niệm vừa hoạt động, hai khả năng không loại trừ nhau. Đúng hơn hoạt động và chiêm niệm bổ túc cho nhau. Hoạt động để chiêm niệm và chiêm niệm để hoạt động. Không nghiêng hẳn về bên nào. “Cầu nguyện và hoạt động” như thánh Bênedictô dạy. Tuần này qua tuần khác, chúng ta lắng nghe Tin mừng thánh Luca. Giống như Maria ngồi bên chân Chúa và nghe lời Ngài, để học biết phải “đón tiếp” Chúa vào cuộc sống ḿnh ra sao! Tuần vừa qua chúng ta nghe dạy ḿnh phải là “thân cận” của những kẻ đang cần được giúp đỡ. Tuần này câu chuyện của Maria lắng nghe lời Chúa. Như vậy chúng ta học biết phải thi thố ḷng hiếu khách và tử tế cho những ai có nhu cầu. Chẳng phải vô t́nh mà sử gia Luca đặt câu chuyện hôm nay ngay sau chuyện người Samaria nhân hậu. Thánh nhân có ngầm ư gởi cho độc giả một thông điệp. Mọi người phải thưa gởi Chúa Giêsu như thầy thông luật: “Con phải làm ǵ để được sự sống đời đời làm gia nghiệp” và câu chuyện của hai chị em Matta và Maria trả lời: “Hăy đón tiếp Chúa Giêsu vào cuộc sống và lắng nghe lời Người dạy bảo về yêu thương đồng loại, những kẻ thân cận của ḿnh” và con đường dẫn đến cuộc sống vĩnh cửu sẽ rơ ràng cho mỗi linh hồn.

 

Chúa Giêsu hỏi ngược nhà luật sĩ: “trong luật đă viết ǵ?” Ông ta trả lời: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết ḷng, hết linh hồn, hết sức lực, hết trí khôn ngươi và yêu mến ngươi thân cận như chính ḿnh”. Câu này có hai phần: phần thứ nhất: yêu mến Chúa, phần thứ hai: thương người thân cận. Dụ ngôn người Samaria nhân hậu trả lời cho phần thứ hai. Tin mừng hôm nay trả lời phần thứ nhất: Lắng nghe lời Chúa tức yêu mến Ngài. Đứng riêng lẻ một ḿnh không nội dung nào đầy đủ cả. Trong dụ ngôn tuần trước người Samaria trông thấy và giúp đỡ kẻ bị nạn. Cô Maria hôm nay đón nghe lời Chúa. Cả hai gộp lại mới cho chúng ư nghĩa trọn vẹn lời giảng của Chúa Giêsu. Xin nhớ nữ giới thời Ngài thường bị hạ thấp giá trị, tương tự như trong xă hội chúng ta ngày nay. Cho nên, cả người Samaria, cả cô Maria là những mẫu người được Chúa Giêsu đề cao: “Mẹ và anh em Thầy là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành”(8,21). Thánh Phaolô trong bài đọc thứ 2 là gương mẫu người thực thi ư Chúa và thương yêu đồng loại. Ông viết: “Tôi đă trở nên người phục vụ Hội thánh, theo kế hoạch Thiên chúa đă ủy thác cho tôi, liên quan đến anh em! Đó là tôi phải rao giảng lời Người cho trọn vẹn, rao giảng mầu nhiệm đă được giữ kín từ bao thời đại”. Chữ “mầu nhiệm” thánh nhân dùng gồm tóm mọi chương tŕnh của Thiên Chúa, dự định cho nhân loại. Nhưng nay đă được tỏ bày qua con người và sứ vụ của Chúa Giêsu.

 

Một từ giúp hiểu rơ bối cảnh của tin mừng hôm nay là danh xưng “Lạy Chúa” (tiếng Latinh: Dominus, tiếng Anh: Lord). Từ này chỉ được Tin Mừng dùng sau khi Chúa đă sống lại. Thí dụ ông Tôma thưa: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con (you are my Lord and my God)”. Thánh Luca đă có dụng ư biểu lộ phản ánh sinh hoạt của Giáo Hội tiên khởi nơi ông trụ tŕ. Họ đón nhận và lắng nghe Chúa sống lại trong cộng đoàn của ḿnh. Hơn nữa Tin Mừng c̣n 2 lần nhắc lại từ “phục vụ”(diakonia) chỉ rơ thói quen hành xử của các viên chức hội thánh lúc bấy giờ. Người ta đă tranh luận nhiều về vai tṛ nữ giới trong các Hội thánh tiên khởi. Liệu họ có được phép “phục vụ” trong Giáo hội không? Nếu được th́ phần việc của họ là ǵ? Tương tự như chúng ta ngày nay tranh căi về các vấn đề nữ giới làm linh mục. Thực tế, thời thánh Luca nữ giới giữ nhiều chức vụ trong cộng đoàn: mục vụ, công việc tông đồ, lănh đạo, rao giảng Tin mừng như trong các thơ của thánh Phaolô (Rm 16,1-5; 16,6-12; 1Cr 16,19; Phil 4,3…). Nhưng trong các thư cũng như bài đọc Tin Mừng hôm nay có sự chia rẽ. Một số thẩm quyền muốn nữ giới giữ vai tṛ lệ thuộc như cô Maria ngồi dưới chân Chúa Giêsu. Và như thế người phụ nữ im lặng là “phần tốt hơn”. Đó cũng là một lối giải thích cho câu chuyện của Luca! Liệu ông có dụng ư thực sự như vậy không? Ông muốn vai tṛ của phụ nữ là im lặng và thụ động? Nếu đúng, th́ tại sao trong công vụ ông nhắc nhiều đến phụ nữ làm việc tông đồ, lănh đạo giáo đoàn? Hơn nữa, theo thói tục Do thái người ngồi dưới chân “tôn sư” là chỗ của các sinh viên nam giới? Hoặc bởi v́ Chúa Giêsu là người phóng khoáng, ít khi lệ thuộc vào thói quen và tập tục, cho nên không để cho những nề nếp trói buộc ḿnh. Bất cứ ai lắng nghe lời Ngài đều được ngồi dưới chân và trở nên môn đệ của Ngài. Vấn đề thật nhiêu khê. Dầu sao,vai tṛ của Matta đón tiếp và phục vụ là công việc quan trọng trong Hội thánh. Ngày nay chúng ta luôn phải thực hành, để những người cô thân cô thế không bị bỏ rơi. Có biết bao nhiêu khách lạ, đói khát, rét mướt, trần truồng trong xă hội. Không người chăm lo cho họ th́ Hội thánh liệu có làm tṛn sứ vụ của ḿnh? May thay, trong công việc này, nữ giới chiếm phần đa số. Tương tự như trong các giáo hội tiên khởi có rất nhiều phụ nữ tài năng. Kẻ th́ ngồi im lặng lắng nghe lời Chúa như cô Maria, kẻ khác hoạt động cứu giúp những nạn nhân thiên tai, dịch họa, bần cùng, đói khát như cô Matta. Bằng đường lối riêng của ḿnh cả hai loại người cùng đón tiếp Chúa Giêsu, cùng phục vụ Ngài. Rơ ràng cả hai đều được Ngài dạy dỗ, bày tỏ ḷng yêu mến Thiên Chúa và giúp đỡ tha nhân. Chúng ta nên cân bằng những hoạt động của họ, không bên khinh bên trọng. Mọi tín hữu đều được mời gọi lắng nghe lời Thiên Chúa. Mọi tín hữu có bổn phận đem Lời Chúa ra thực hành. Loại trừ mọi khả năng ưu tuyển, nhận cho ḿnh những phần hơn, phần tốt. Bởi lẽ khi hoàn thành công tác, mọi người đều được Thiên chúa thâu nhận vào nước trời, an hưởng cuộc sống đời đời. Đó là phần tốt nhất và không bị lấy đi. Trong thánh lễ hôm nay, xin Thiên chúa cho mọi linh hồn thấm nhuần được tinh thần đó. Amen.