
Trong Giáo Hội
Đông Phương thế kỷ XIV, người ta tìm thấy
nhiều bức ảnh có cùng một kích thước, vẽ
Mẹ Thiên Chúa, Đức Ki-tô, các thiên thần cùng với
những dụng cụ khổ hình thập giá. Theo truyền
thống vẽ ảnh thánh Byzantin, Đức Ma-ri-a không bao
giờ xuất hiện mà không có Chúa Giê-su, Con của Mẹ,
bởi Chúa Giê-su là trung tâm của lòng tin.
Nghệ thuật
vẽ ảnh thánh
Ta biết rằng lối
vẽ ảnh thánh nói chung và ảnh Đức Mẹ Hằng
Cứu Giúp nói riêng là thuộc về thời từ Thượng
Cổ đến Trung Cổ và thuộc Giáo Hội Đông
Phương, tức là vùng Hy Lạp - Byzantin và sau này lan sang
cả nước Nga. Đó là nghệ thuật vẽ loại
ảnh thánh mà người ta gọi là ICON. Mục đích của
lối vẽ ảnh thánh này không phải để trang
trí, cũng không đơn thuần chỉ chú tâm vào vẻ
đẹp, tuy rằng nó rất đẹp, cũng không phải
là vẽ y như thật, nhưng là để chuyển tải
một thông điệp tinh thần cao cả, một điều
gì đó vượt quá những thực tại trần thế
được diễn tả, một mầu nhiệm hiệp
thông. Đó là cả một nghệ thuật, mỗi chi tiết
đều có ý nghĩa riêng của nó.
Vẽ ảnh thánh
là để ảnh thánh trở nên như trung gian làm cho mầu
nhiệm Thiên Chúa hiện ra trước mắt người
ta, làm sao để đi sâu vào đời sống đức
tin, tìm ra cái căn bản chung cho người vẽ cũng
như người chiêm ngắm. Cho nên hoạ sĩ vẽ ảnh
icon không phải cứ hứng lên là vẽ, thường
đa số các hoạ sĩ đó là những tu sĩ, và
khi vẽ những bức ảnh đó thì họ ăn chay
cầu nguyện, nhập thần đi vào hiệp thông với
Chúa, suy niệm về mầu nhiệm họ sẽ diễn
tả, rồi trong sự ăn chay cầu nguyện, họ
mới vẽ lên bức ảnh. Vì thế bức ảnh là
kết quả của quá trình ăn chay cầu nguyện và
suy niệm. Những bức vẽ theo truyền thống
Byzantin giống như một khung cửa, mà có ai chỉ
đứng trước cửa mà ngắm nhìn, cho dù khung cửa
ấy có đẹp? Chúng ta muốn mở khung cửa ấy
ra mà đi vào bên trong. Khung cửa có thể hấp dẫn
hay không hấp dẫn, nhưng nó chỉ là cửa dẫn
chúng ta vào một thế giới mới.
Có thể nói, tất
cả những điều nói trên đọng lại trong mẫu
ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, vì đây không
chỉ là một cảm hứng thế gian thông thường
nhưng là một sự hiệp thông thật sự với
Chúa và với anh em đồng loại. Bức ảnh Đức
Mẹ Hằng Cứu Giúp quả là một khung cửa dẫn
chúng ta vào cõi vô hình.
Ta thấy gì khi ngắm
nhìn bức ảnh?
Tại sao Con Thiên Chúa sợ
hãi
Nhìn lên ảnh Mẹ,
ta thấy Mẹ bồng Chúa Giê-su trên tay, nhưng Chúa thì
đang quay ngoắt đi như có vẻ sợ hãi. Ta có thể
hình dung Chúa Giê-su từ xa chạy đến bám chặt vào
Mẹ. Người không nhìn Đức Mẹ, không nhìn chúng
ta và cũng không nhìn các thiên thần, nhưng nhìn vào điều
gì đó mà ta không thấy – điều gì đó khiến
Người sợ vội chạy đến với Mẹ
làm cho một chiếc dép gần rơi ra; điều gì
đó khiến Người bám chặt vào Mẹ để
được bảo vệ và được yêu
thương. Người sợ bởi vì thấy hai thiên
thần xuất hiện hai bên, thay vì mang hạc cầm và
kèn để hát ca cầu nguyện thì lại mang trên tay những
dụng cụ khổ hình mà Chúa phải chịu, tức là
thập giá, đinh sắt, lưỡi giáo, nước
đắng với bọt biển. Một lần mặc lấy
bản tính hay chết (Pl 2,6-11), Con Thiên Chúa cũng sợ chết,
và khi nhìn thấy các dụng cụ hành hình rất đáng sợ
như thế, sự sợ hãi kinh hoàng bao trùm lấy
Người (Lc 22,41-44). Người chạy đến với
Mẹ, và được Mẹ ôm vào lòng trong giây phút kinh
hoàng ấy. Điều này muốn nói rằng Mẹ sẽ
luôn ở bên Chúa trong cuộc sống và cái chết của
Người. Khi Mẹ không thể gánh hết đau khổ
của Con Mẹ thì Mẹ có thể yêu thương và an ủi
Người. Mẹ ôm con vào lòng gần trái tim (Lc 2,35.51). Mẹ
ở đó, trong lòng tin, gần Đức Ki-tô, Đấng
hiến mạng sống mình vì tình yêu đối với
chúng ta là những tội nhân (Rm 5,8-11). Mẹ thực thi
thiên chức làm mẹ của mình đối với tất
cả những ai đón nhận Lời Thiên Chúa (Ga 19,27).
Ánh mắt của
Mẹ
Vậy, tuy rằng
hoạ sĩ vẽ Đức Mẹ bồng Chúa Hài Nhi,
nhưng toàn cảnh lại ngụ ý rằng Người
Con Mẹ sinh ra kia sẽ là Đấng bước lên thập
giá. Đấy là người mẹ của mầu nhiệm
thập giá. Người Mẹ bồng con cũng là người
mẹ đứng bên thập giá. Người mẹ mang
Chúa đến, và Chúa đến là để đưa Mẹ
vào trong cùng một cuộc khổ nạn. Vì thế, ta thấy
nét mặt của Đức Mẹ đượm một
vẻ u buồn. Nhưng nét mặt thì hơi buồn mà cặp
mắt lại rất âu yếm, cặp mắt ấy không
nhìn vào Chúa Giê-su, không nhìn lên trời, không nhìn vào các thiên thần.
Khi đến gần ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu
Giúp, ta sẽ thấy dù ta đứng chỗ nào, Đức
Mẹ cũng như đang nhìn ta. Mẹ nhìn ta như thể
muốn nói với ta một điều gì đó quan trọng
lắm. Ánh mắt Mẹ có vẻ nghiêm nghị, hơi buồn,
nhưng đòi ta phải chú tâm. Ánh mắt Mẹ đưa
ta vào cuộc, làm cho ta nên một thành phần trong bức hoạ.
Hoá ra, Mẹ bồng Chúa trên tay nhưng Mẹ lại
đang đưa mắt nhìn hết cả thế gian, không
trừ một người nào. Điều này ngụ ý rằng
ơn cứu độ của Thiên Chúa được ban
cho mọi người, mọi thế hệ, mọi thời,
mọi nơi. Cái nhìn của Mẹ cũng mời gọi
ta trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời, hãy chạy
đến với Mẹ để tìm nơi ẩn náu, hãy
chạy ngay đến với Mẹ như Chúa Giê-su đã
làm xưa, chạy thật nhanh đến với Mẹ
đến độ chẳng cần nghĩ chúng ta đang
mang gì, chạy thế nào, chỉ cần chạy thẳng
đến.
Thập giá và vinh
quang
Ta thấy, ở
đây có mầu nhiệm thập giá: Chúa sẽ phải chết
vì ta; ở đây có nét đượm buồn trên
gương mặt Đức Mẹ, nhưng tất cả
những điều đó không có ý nói rằng mọi sự
là bi quan, đen tối. Điều này được diễn
tả trong chi tiết nền màu vàng và màu áo của Mẹ,
màu áo của Chúa. (Tiếc là nhiều bức ảnh Đức
Mẹ Hằng Cứu Giúp hiện nay thay vì nền vàng lại
là một màu đen, màu nâu…và đôi khi nhiều bức ảnh
lại được tô điểm hơi quá mức làm mất
đi nét thực của nó). Trong hội hoạ nghệ thuật
vẽ icon của Giáo Hội Đông Phương thời
xưa, màu vàng là màu nói về ánh sáng, về vinh quang của
Thiên Chúa. Tất cả nền của bức ảnh này là
màu vàng. Hơn nữa, ta thấy Mẹ mặc chiếc áo
dài màu xanh đậm với yếm đỏ và áo ngang
lưng màu xanh lá cây. Màu xanh đậm, màu xanh lá cây, màu đỏ
đó là màu vương giả, chỉ những hoàng hậu
mới được phép mặc những màu như thế.
Chúa Giê-su cũng mang những màu vương giả, chỉ
những Hoàng Đế mới được mặc áo thắt
ngang lưng màu xanh lá cây, áo choàng vai màu đỏ và gấm
thêu kim tuyến màu vàng. Như thế, cái chết của
Chúa Giê-su, khổ hình thập giá Chúa phải chịu lại
được đặt trên nền tảng vinh quang của
Thiên Chúa. Và vinh quang của Thiên Chúa mới là cái bao trùm sự
chết và đau khổ của Chúa Giê-su, là ơn cứu
độ của Thiên Chúa đến cho người ta.
Mẹ dẫn
đường chỉ lối
Khi ngắm bức ảnh,
chúng ta thấy Chúa Con được vẽ toàn thân, còn
Đức Mẹ chỉ có bán thân, nhưng ta có cảm giác
là Mẹ đang đứng. Và điều đặc biệt
là điểm trung tâm của bức ảnh không phải là
Đức Mẹ hay Chúa Giê-su, mà là hai bàn tay giao nhau, bàn tay của
Chúa đang nắm lấy bàn tay của Mẹ. Vậy trong
mầu nhiệm Đức Giê-su đến và chịu chết
có sự gặp gỡ giữa con người và Thiên Chúa,
có sự hoà giải giữa con người và Thiên Chúa. Và nếu
nhìn kỹ hơn, chỗ hai bàn tay giao nhau, chúng ta thấy
ngón tay của Đức Mẹ rất dài, ngón tay dài ấy
là ký hiệu của hội hoạ truyền thống nghệ
thuật vẽ ảnh thánh icon ngày xưa. Đức Mẹ
với ngón tay dài được gọi là Đức Mẹ
Chỉ Đường. Ngón tay này là ngón tay chỉ đường.
Vậy tất cả bức ảnh này có ý nghĩa là Đức
Mẹ chỉ cho ta thấy mầu nhiệm Chúa đến
để cứu độ trần gian. Cũng nơi bàn
tay giao nhau ấy, ta thấy bàn tay của Đức Mẹ
không nắm chặt bàn tay của Con Mẹ đang sợ
hãi cần sự che chở, nhưng bàn tay ấy luôn mở
ra. Mẹ mời gọi chúng ta hãy cùng với Chúa Giê-su đặt
bàn tay của mình vào trong tay Mẹ. Mẹ biết những
gì nguy hiểm và khủng khiếp sẽ xảy đếvới
chúng ta trong cuộc đời và chúng ta cần ai để
chạy đến khi đau khổ và sợ hãi. Mẹ sẽ
mang đến cho chúng ta niềm an ủi và tình yêu như
xưa Mẹ đã làm cho Con Mẹ.
Chắc hẳn còn
nhiều chi tiết ẩn chứa trong bức linh ảnh
Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp mời gọi chúng ta
tìm hiểu và khám phá. Và mỗi người sẽ khám phá ra
được một điều gì đó cho riêng mình khi lặng
ngắm ảnh Mẹ với cả tấm lòng, với
chính bản thân đang ở trong nỗi khốn khó, gian
truân, cần được Chúa cứu độ. Bởi
vì, bức linh ảnh Mẹ luôn toả ra một sự an
bình huyền diệu. Một sự an bình linh thiêng và sâu thẳm,
được cất giấu trong sự đau khổ
như kho tàng quý báu của Nước Thiên Chúa (Mt 13,44).