CHÚA NHẬT XXX
TN (Năm A)
Mt 22, 34 – 40
TÓM VỀ HAI NẦY MÀ CHỚ…!
XU HƯỚNG NHỎ HOÁ VÀ GỘP
HOÁ
Người Pháp diễn
tả cuộc sống hiện đại mà họ ngán ngẫm
chịu đựng cái “routine” (đều đặn, máy
móc, buồn nản) bằng ba từ ngữ : “metro – boulot -
dodo” (xe điện ngầm – công việc - ngủ). Một
ngày như mọi ngày. Cuộc sống được chuẩn
hoá đến mức con người trở thành một thứ
rô-bốt và muốn mọi thứ cũng phải
được làm cho gọn nhẹ, không chỉ tiện dụng,
mà không đ̣i hỏi thời giờ công sức. Với công
nghệ ngày nay, chiếc điện thoại di động
ngày càng đáp ứng được mọi đ̣i hỏi
của những người khó tính nhất: hai “sim”, chụp
h́nh, nghe nhạc, xem phim, truy cập internet, gửi thư,
v..v...và chắc chắn các tính năng không dừng lại ở
đó, trong khi bản thân chiếc điện thoại ngày
càng được nhỏ hoá và mỏng hoá, với giá cả
ngày càng dễ chấp nhận. Cũng trong xu hướng
“gộp hoá” tạo thuận lợi tối đa đó, các
nhà tiếp thị biết thuyết phục các bà nội trợ
không chỉ bằng quảng cáo về chất lượng
vượt trội của sản phẩm chào bán, mà c̣n cố
gắng “gộp” lại để có “hai trong một”, “ba
trong một”!
Phải chăng
“mười điều răn ấy”, - mười điều
răn ‘gốc’, - sau một thời gian dàu qua bàn tay luật
sĩ Do Thái nhào nặn, đă trở thành một bộ luật
đồ sộ, cồng kềnh, đến cả Chúa
Giêsu cũng thấy ớn rét - 613 điều – nay cũng
được Chúa Giêsu đi trước thời đại
với việc “gọn nhẹ hoá” và trở thành “tóm về
hai nầy mà chớ!”? Với những lần và những lời
Chúa Giêsu quở trách các luật sĩ, biệt phái, th́ dường
như suy nghĩ nầy không sai: Chúa Giêsu tinh giản tất
cả và “tóm về hai nầy mà chớ!”. Nhưng bí quyết
để “tinh giản, gọn hoá” tối đa, mà vẫn
bảo đảm chất lượng, không ai có thể hời
hợt tự châm chước hoặc lấp liếm dối
trá: yêu mến, cái mà về sau Thánh Augustinô đă dám khẳng
định: ”ama et fac quod vis” (hăy yêu và hăy làm những ǵ ḿnh
muốn).
AN B̀NH và HOÀ B̀NH
Sức khoẻ theo
định nghĩa của WHO (tổ chức y tế thế
giới) không chỉ là không có bệnh tật, mà c̣n phải
được sống trong môi trường văn hoá, xă hội,
tâm lư hoàn hảo. Cũng thế, hoà b́nh không phải chỉ
là vắng bóng chiến tranh, mà c̣n phải được sống
trong một bầu khí chan hoà, tôn trọng, không có sự dữ
và tội ác, không ghen ghét đố kỵ, không sợ hăi nghi
ngờ, không dối trá bất công, cả với cá nhân cũng
như cộng đồng. Cũng là một từ ngữ
tiếng Âu Mỹ, “Peace – Paix”, nhưng “hoà b́nh” chỉ có
được, khi trong mỗi con người, giữa những
con người, trong mỗi cộng đoàn, giữa những
cộng đoàn, có “an b́nh”. Với những điều kiện
như vây, Sức Khoẻ cũng như Hoà B́nh xem ra vẫn
chỉ trong ước mơ và vẫn phải chấp nhận
cái tương đối.
Với Chúa Giêsu - và
Người truyền dạy điều ấy cho chúng ta –
an b́nh là điều quan trọng nhất trong cuộc sống
Kitô-hữu. Nó giúp chúng ta luôn thăng bằng trong mọi
giông tố cuộc đời. Nó làm cho tâm chúng ta hài hoà, tĩnh
lặng ngay giữa những xáo trộn, thế sự
thăng trầm. Nó giữ chúng ta thư thái hài hoà giữa
bao tranh chấp, đố kỵ, dục vọng. Nó cho
chúng ta luôn sống liên kết với Thiên Chúa và với tha
nhân. Nó làm nên sự khác biệt giữa con cái Chúa (sự
sáng) và con cái thế gian (bóng tối). B́nh an là lời chúc và
ơn lành Chúa Giêsu ban cho các môn đệ, nhất là sau khi
Người phục sinh. An b́nh là hoa trái của phục
sinh, của Chúa Kitô và của cả mỗi người
chúng ta, với điều kiện là chúng ta cùng chịu khổ
nạn với Chúa Kitô để cùng sống lại với
Người. Có an b́nh của Chúa, tức là có hoà b́nh. Không có
an b́nh, th́ không thể có hoà b́nh (nhiều lắm th́ cũng
chỉ là ngưng chiến tranh). V́ thế, mười
điều răn hoặc một trăm điều
răn cũng sẻ vô ích, nếu chúng không nhằm để
tôn vinh ngợi khen cảm tạ Chúa và hoàn thiện hơn
con người để xứng đáng hơn với
ơn phúc to lớn làm con Chúa. Chúng chỉ là những nhịp
cầu giữa Thiên Chúa và Trần Thế. T́nh yêu mới là
cái dẫn con người đến với Chúa.
SỐNG VÀ LÀM THEO LUẬT
PHÁP
“Sống và làm theo luật
pháp” là ước mơ của tất cả mọi chính phủ
đối với con dân của ḿnh. Một đất
nước với những người dân hiểu biết
luật pháp, tôn trọng và giữ nghiêm luật pháp, th́ tội
ác sẽ được giảm thiểu tối đa.
Nhưng luật lệ - dù là luật Chúa ban - chỉ là những
cái khung tối thiểu, những điều kiện tốt
nhằm giúp chúng ta vững vàng tiến về Nước Trời.
Luật lệ không bao giờ là cái đích đến. Lex,
dura lex, sed lex: luật bao giờ cũng cứng rắn,
song luật là luật. Chỉ khi nào người ta khoác cho
nó bộ mặt nhân bản, th́ nó sẽ có t́nh người
hơn. Chỉ khi nào nó được thấm nhuần tinh
thần của Chúa, của Tin Mừng Bác Ái yêu
Thương, th́ lúc đó mới đúng như câu nói của
Chúa Giêsu: “ách của ta th́ êm ái; gánh của Ta th́ nhẹ nhàng”.
Luật lệ khi ấy không c̣n là những điều ép buộc,
khắc nghiệt và khô khan, nhằm g̣ bó con người nữa,
mà trở thành những nấc thang dẫn chúng ta tới gần
Chúa ngày một hơn.
Ở trong các làng
truyền thống Việt-Nam, luật pháp ít ảnh hưởng
trực tiếp, v́ có các “hương ước”. Cha ông vẫn
nói: “luật vua thua lệ làng”. Người dân trong lũy
tre xanh chỉ cần tuân giữ “lệ làng” là đă quá
đủ, bởi v́ trong “lệ làng” có điều mà “luật
vua” không thể có được: ḷng nhân ái, t́nh xóm giềng.
Ngược lại, ngoài lũy tre, trong thành thị văn
minh hơn, một người bị luật pháp ghép tội
bỏ tù, cũng chỉ lo âu v́ mất tự do và ảnh
hưởng đến kinh tế gia đ́nh; trong khi phía bên
trong lũy tre, phạm vào một lỗi nhỏ thôi,
nhưng trên làng dưới xóm biết được, th́
không cần ai lên án,cũng đă đủ xấu hổ nhục
nhă. T́nh làng nghĩa xóm có sức manh hơn mọi luật
pháp. Một cách nào đó, đời sống và thái độ
của Kitô hữu đối với luật pháp - của
loài người hoặc như Chúa ban cho Dân Riêng – cũng có
thể so sánh phần nào như vậy. Và chỉ cần
tinh thần “yêu mến” là thay đổi được tất
cả.
NGƯỜI KHỜ
DẠI NÀO ĐÂU CÓ BIẾT,
KẺ NGU SI CHẲNG
HIỂU ĐIỀU NẦY (Tv 91.7)
Nguồn gốc và
điểm tham chiếu của mọi luật lệ, luật
pháp thế giới là luật tự nhiên, dựa trên tự
do và phẩm giá của con người. Tự do và phẩm
giá ấy dù bị xâm phạm qua bao đời, vẫn không
thể bị dập tắt hủy hoại, v́ đó là quyền
con người, là những ǵ làm cho con người vượt
trên mọi loài thọ tạo. Luật tự nhiên, về phần
nó, lại xuất phát từ ư muốn của Thiên Chúa, v́
đơn giản là mỗi người sinh ra đều
được phú cho lương tâm, để không cần
luật pháp, con người cũng biết phân biệt phải
trái,tốt xấu một cách…tự nhiên. Anh vô thần hay
tôi Kitô-hữu th́ cũng đều biết rằng vu oan
giá hoạ cho kẻ khác là xấu xa đê tiện. Dù luật
pháp bị anh nhào nặn bóp mép, th́ tiếng lương tâm cũng
mách bảo là anh làm sai. Dần dà v́ hành động sai trái
nhiều lần và ĺ lợm cố chấp, lương tâm
anh chai đá, nhưng không v́ thế mà các hành vi xấu xa sai
trái của anh trở nên tốt được. Sách nhà Phật
(khi anh chẳng tin giáo lư đạo Công giáo) có nói: “Khẩu
nghiệp có bốn: nói dối - nói trau chuốt - nói đôi
chiều -, nói hung ác. Nói dối là nói lời không thành thật,
lời đă không thành thật th́ tâm cũng không thành thật,
do đó nhân cách bị tổn thất rất nhiều. Nói
trau chuốt là nói lời phù phiếm hoa t́nh, khiến cho
người sanh ra tâm niệm dâm đăng. Nói đôi chiều
là nói khiêu khích thọc mách sự phải quấy của
đôi bên, nhỏ th́ lầm lạc người, lớn th́
hư nhà hại nước. Nói hung ác là nói lời ác độc
như gươm đao, khiến cho người khó nhẫn
chịu sanh ra buồn khổ. Bốn điều nầy
không làm th́ khẩu nghiệp lành, làm th́ khẩu nghiệp ác”
(Tịnh Độ, người dịch: TT Thích Thiền
Tâm). Khi khẩu nghiệp biến thành hành động, th́ sẽ
ra sao? Không cần phải 60 năm Công Ước Quốc Tế
Nhân Quyền hoặc đạt bút kư vào, mới biết
hành động thế nào là xâm phạm quyền con người.
Chỉ khi tán tận lương tâm, khi mù quáng tuân theo học
thuyết u mê hoặc mệnh lệnh kẻ khác và bán rẻ
ḿnh, th́ mới bỏ qua chút thiện căn cuối cùng,
để hành động sai trái xấu xa. Thánh vịnh 91
đă định nghĩa hạng người có lối suy
nghĩ, nói năng và hành động rồ dại nầy:
“Người khờ dại nào đâu có biết; kẻ ngu
si chẳng hiểu điều nầy”. Chuyện “ếch
ngồi đáy giếng” xưa nay vẫn thế!
V́ thế, hai điều
mà Chúa Giêsu muốn đặt vào hai giới răn “tóm về
hai nầy mà chớ!” từ các luật lệ và tiên tri, ấy
là trước hết điều kiện sine qua non của
luật Chúa, hay đúng hơn, của cách giữ luật
Chúa: T̀NH YÊU. Sau đó, tiêu chí giúp ta nhận biết tính chính
xác của việc ta tuân giữ luật Chúa, ấy là AN
B̀NH: nếu giữ luật Chúa theo tinh thần Tin Mừng,
sẽ có an hoà, an b́nh; nếu chỉ giữ h́nh thức
(như biệt phái) hoặc chỉ nh́n ở góc độ
con người, chưa kể là lạm dụng để
hiếp đáp, ngang ngược, th́ không bao giờ có an hoà,
hoà b́nh.
CVK Nguyễn-Thế-Bài